mở đầu, phan kết luận, phan phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chỉnh của dé tài được trình bay qua ba chương: Chương |: Cơ sở luận lí Chương II: Tổng quan về đất nước Ấn Độ Chương III: Vấn dé sắc tộc, tôn giáo và ảnh hưởng của nó đến sự phat triển kinh tế — xã hội Cộng hòa Ấn Độ SVTH: Tưng The Thain TTuung & ÁN ưai foudlin tt TỦ GVHD: Fehon Âu» — Phần II: Mộ dune Chương |: | CƠ SỞ LÝ LUẬN I. KHÁI NIÊM SẮC TỘC: Cần phải hiểu dân tộc và sắc tộc là hai khái niệm khác nhau. Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử, sống trên một lãnh thổ nhất định, có chung các mối liên hệ về kinh tế, có chung một ngén ngữ, một nên văn hóa. Vi dụ như dân tộc Việt Nam, dân tộc An Độ,.
Còn sắc tộc nó ở thang bậc thứ tự sau : Đại Chủng (1), Tiểu Chủng (2), Nhóm loại hình (3), sắc tộc (4), Họ (5), Chi (6), gia đình (7), cá thể (8), Mỗi sắc tộc đều có ngôn ngữ riêng và một bản sắc văn hóa riêng. Hay nói cách khác mỗi sắc tộc được thể hiện qua các thành phan văn hóa của họ. Về văn hóa vat chất được thể hiện qua nhà cửa, đỗ dùng gia đình, y phục, än uống. Văn hóa tinh than đó là các phong tục, tập quan, nghệ thuật dan gian.
Sự thống nhất về văn hóa của các thành viên sắc tộc không thể tách rời mối liên hệ với một sốđặc điểm tâm lý của họ, chủ yếu là sắc thái, phong cách của sự biểu thị các thuộc tính con người của tâm lý, Các đặc trưng này trong sự tổng hòa của nó tạo nên tính chất sắc téc có danh tính xác định. Rất phổ biến tinh trạng một tộc người tan ra sinh sống ở nhiều quốc gia trong những miễn ngoại vi với tư cách là một tộc người. Như người Thái sống ở Thái lan và người Thái sống ở Việt Nam. Có tình trạng tộc người sống cất ngang trên đường phân ranh giới giữa hai, ba nước tao nên nguyên cđ thường xuyên cho sự bat ẩn định giữa các nước, điển hình như người Cuốc sống ở Trung cận đông, người Baskd ở giữa nước Pháp và Tây Ban Nha, người Tamil ở Ấn Độ và Xrilanca.
Trong một quốc gia cũng có sự xung đột giữa các tộc người khác nhau. Chính sự xung đột này là nguyên nhân gây bất ổn định về chính trị, xã hội làm ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. SWTH: Teng The TA du Thang 7 II. KHÁI NIEM TON GIÁO VÀ LOAI TÔN ;IÁ O: i.
Khải Hiệm : Tôn giáo bắt nguồn từ tiếng La tỉnh (Religio), có nghĩa là sự sùng đạo, sự mộ đạo, Tôn giáo là sự tin tưởng của con người vào lực lượng siêu tự nhiên được biểu hiện qua hai khía cạnh: - Thế giới quan và những hành vi tương ứng liên quan đến niềm tin ở lực lượng siêu tự nhiên và những ảnh hưởng của lực lượng này đến đời sống con người và sự tổn tại của họ sau khi chết. - Sự thể hiện một cách tưởng tượng các lực lượng tự nhiên và xã hội trong nhận thức của con người. Tôn giáo không chỉ là quan niệm, tình cảm thuộc hình thái ý thức mà còn là một tổ chức hoặc thực thể xã hội bao gồm các tổ chức, nghỉ thức, quy chế của tôn giáo. Mọi quan niệm về tôn giáo và các tổ chức thiết chế của tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt động sản xuất và điều kiện sống nhất định trong xã hội va thay đổi theo những thay đổi về kinh tế, Tôn giáo là mội hiện tượng lịch sử xã hội có qúa trình ra đời phat triển và tiêu vong của nó.
Sau khi ra đời, tôn giáo có ảnh hưởng nhất định đến các tổ chức chính trị, chế độ luật pháp, văn học, nghệ thuật, thói quen đạo đức (nói năng, ăn mặc, hành vi ứng xử) của các quốc gia ở thời kì tưởng ứng. Phân loại tân giáo : Hiện nay có rất nhiều cách phan loại tôn giáo. Người ta có thể dựa vào tính chất, vị trí, sự biến đổi. của thắn linh được sùng bái để phân thành đa thin giáo, nhị than giáo, nhất thin giáo.
cũng có khi người ta dựa vào chức năng xã hội của tôn giáo để phân thành tôn giáo tự phát, ton giáo nhãn vt. Mỗi cách phân chia đều có lý do của nó nhưng cũng có những giới hạn nhất định. Và cách phan loại phổ biển nhất là dựa vào phạm vi SVTH: Ty The Tu Trany 6 truyền giáo để phân chia thành tôn giáo thị tộc-bộ lạc, tôn giáo địa phương và tôn giáo thế giới, Xuất xuất hiện vào thời kì chiếm hữu nô lệ, bao gồm những tin ngưỡng totem, đạo bái vật, đạo vật linh.2 Tên giáo địa phương: La loại tôn giáo có ảnh hưởng trong phạm vi một quốc gia, hay một lãnh thổ nhỏ nào đấy. Chẳng hạn như: Đạo Khổng, Đạo Lão ở Trung Quốc hay Đạo Thần ở Nhật Bản.3 Tôn giáo thé giới: Nó là phạm vi ảnh hưởng trong nhiều quốc gia, nhiều khu vực như: Đạo Cơ đốc, Đạo Do Thái, Đạo Hồi, Đạo Phật.
Phản loại tôn giáo ngoài việc căn cứ vào những hình thái phát triển xã hội khác nhau con phải suy xét tới đặc điểm khác nhau của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cũng như tình hình phát triển của bản thân tôn giáo. Các giai đoạn phát triển của tôn giáo : Lich sử phát triển tôn giáo trên phạm vi thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn : tôn giáo thủy nguyễn, tôn giáo cổ đại, tôn giáo trung đại, tôn giáo cận hiện đại. Dựa vào khai quật khảo cổ, người ta xác định tôn giáo xuất hiện vào khoảng từ một đến ba van năm trước cỗng nguyên, thời hậu kì để đá giữa hoặc muộn hơn một chút. Nhìn chung tén giáo nguyên thủy là tôn giáo thị tộc nguyên thủy.
Trong cuộc đấu tranh gay gat với tự nhiên, người nguyên thủy thấy mỗi bước đi của mình đều gặp phải những hiện tượng lạ không thể giải thích nổi. Chẳng hạn như sấm chớp, giấc mơ, bệnh tật, chết chúc. Do con người không hiểu đúng được những hiện tượng tự nhiên đó nên sinh ra lo sợ. Họ nhận thức sai lắm rằng xung quanh họ tổn tại một lực SVTH: Tưng The They “Thang 9 lượng siêu nhiên chỉ phối trong ho mọi lĩnh vực.
Chỉ có dùng các nghỉ lễ như cúng bái, tế lễ hay ma thuật, tụng niệm, nhảy múa,. mới có thể tai qua nạn khỏi, giữ cho đời sống và sản xuất thuận buém xudi gió, từ đó xuất hiện tôn giáo nguyên thủy. Tôn giáo nguyên thủy có những hình thức khác nhau ở từng vùng, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau nhưng chung quy lại cũng chỉ có hai loại : một là trực tiếp thờ cúng các lực lượng tự nhiên hoặc là các vật tự nhiên có liên quan mật thiết đến đời sống con người như sông, núi, biển, mặt trời, mặt trăng, động vật, thực vat. hay nhân cách hóa chúng thành thin linh để thờ cúng; hai là thờ cúng những than linh hay linh hẳn được tưởng tượng ra, tách rời thể xác con người.
Hai loại cúng tế này được biểu hiện dưới các hình thức như : cúng ma qủy, tổ linh, tölem. Tôn giáo nguyên thủy chủ yếu phản ánh một cách hư ảo mâu thuẫn giữa đời sống con người và giới tự nhiên. Phan lớn nội dung của nó đều thể hiện lực lượng tự nhiên mà con người chưa đủ sức khống chế hoặc nấm bắt nó. Trong loại tôn giáo này chưa có yếu tế lừa bịp, nó khác về bản chất so với tôn giáo giai đoạn sau.
Tôn giáo nguyên thủy được xem là tôn giáo thờ cúng đa thần của thị tộc đến lúc thị tộc tan rã, bộ lạc hình thành thì thần linh của bộ tộc cũng theo đó mà thay đổi hoặc hợp thành thần linh của bộ lạc. Hiện nay tôn giáo nguyên thủy vẫn còn đang lưu hành trong các dân tộc bản địa ở châu Phi, Ôxtrâylia và châu Đại Dương.2 Tôn giáo cổ đại: Tôn giáo cổ đại là tôn giáo thuộc xã hội văn minh cổ dai, cũng chính là tôn giáo trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời gian của giai đoạn này rất dài, khoảng cách lớn, có thể chia làm hai thời ki: + Thời kì đâu: Vào khoảng 4000 - 2000 năm trước công nguyên, những chiếc nỗi của nền văn minh thé giới là lưu vực sông Hoàng Hà — Trung Quốc, sông An vùng Nam A, sông Tigord, sông Cphdrat ở Tay A và sông Nin = Ai Cập lan lượt bước vào xã hội có giai cấp. Tiếp sau đó là sự ra đời của hàng loạt nhà nước nô lệ ở các vùng Tiểu A, Xyri, SVTH: Torney The Theiy Thang /ứũ Kibo tuân tất naghedys GVHD: Zuau su Palestine, Iran.
Tại các vùng này lin lượt xuất hiện các nền văn minh sớm nhất đẳng thời cũng sản sinh ra những tôn giáo lâu đời trên thé giới. Trong đó, quan trọng nhất là tôn giáo thờ Thiên dé, thờ Ấn - Chu ở Trung Quốc, tôn giáo Babylon, Ai cập cổ đại, tôn giáo Veda, tan giáo Iran (tôn giáo bản địa). Phan lớn các tôn giáo này cũng từ tôn giáo nguyên thủy mà ra. Thời kì này các thần linh được tổ chức thành một hệ thống thiên giới trong đó chia thành chủ than và thứ thần, hình thành lệ thờ cúng chủ than.
+ Thời kì sau: Từ cuối thiên niên kỉ I trước công nguyên đến giải đoạn giữa thiên niên ky | sau công nguyễn, hàng loạt tôn giáo đã tương đốt định hình trên một số khu vực văn minh của thế giới như: Đạo Bà la môn, Đạo Giaina, Đạo Phật ở Ấn Độ, Đạo Do Thái ở Palestine. Sau đó lại xuất Đạo Cơ đốc, Đạo Ấn Bộ, Đạo Islam. phan lđn các tôn giáo này có nghỉ lễ, giáo lý và hình thức tổ chức đều hoàn bị hơn thời kì trước, một số tôn giáo còn soạn thảo kinh điển và hình thành hệ thống than học, triết học tương đối có hệ thống. Có tôn giáo lúc dau là tôn giáo của một dân tộc, khu vực, quốc gia, nhưng cùng với méi giao lưu quốc tế ngày càng phát triển đã trở thành tôn giáo mang tính thế giới.3 Tôn giáo trung đai: Trung đại là một khái niệm mo hồ không rõ.
Các nước phương Đông và phương Tây đều có cách giải thích riêng của mình. Thời kì này, Đạo Phật, Đạo Cơ đốc, Đạo Islam đều giành vị trí chủ đạo tại những vùng quan trọng trên thé giới. Đạo Bà la môn đã trở thành Dao Ấn Độ trong giai đoạn đầu của thời kỳ trung đại và nhanh chóng trở thành tôn giáo chính ở lục địa Nam Á.