CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỈNH SƠN LA, QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP ĐẠO TIN LÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU 5 1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỈNH SƠN LA LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội. Điều kiện tự nhiên, dân cư.
Sơn La là một tỉnh vùng cao phía Tây Bắc Việt nam, cách Hà Nội 379Km. Diện tích tự nhiên là 14. Phía Bắc giáp Lào Cai; Phía Nam giáp Thanh Hoá; Phía Đông giáp Phú Thọ, Hoà Bình và Yên Bái; Phía Tây giáp Lào với 250Km đường biên giới [6, tr. Sơn La có 10 huyện, thị với 201 xã, phường, thị trấn (trong đó có 40 xã vùng cao và 20 xã vùng cao biên giới), 2816 bản và tiểu khu.
Dân số của tỉnh 881.383 người (tính đến 1. Sơn La có 12 dân tộc anh em trong đó dân tộc Thái chiếm 54,7%, Kinh 18,7%, Hmông 11,7%, Mường 8,2%, Dao 2,7%, Khơ Mú 1,6%, Sinh Mun 1,5%, các dân tộc Lào, La Ha, Kháng, Tày, Nùng chỉ chiếm 0,7%. Về số lượng người Hmông đứng vào hàng thứ 3 của Sơn La và họ thường cư trú ở những vùng núi cao trên 1000 m [6, tr. Do điều kiện địa lý tự nhiên, Sơn La là một tỉnh có địa hình phức tạp, núi rừng trùng điệp, nhiều sông suối, khe lạch.
Diện tích núi đồi ở đây chiếm tới 60%, diện tích ruộng ít, độ cao trung bình 700m so với mặt biển. Khí hậu Sơn La khắc nghiệt, mùa hè nắng nóng mưa nhiều, mùa đông sương muối, khô hạn và thường xuyên diễn ra thiên tai [9, tr. Đặc điểm về kinh tế và đời sống. Sơn la là một tỉnh miền núi cao điều kiện tự nhiên không thuận lợi, những yếu tố làm kìm hãm, cản trở sự phát triển nền kinh tế và đời sống còn rất lớn.
Mặc dù vậy sau hơn 10 năm đổi mới với sự nỗ lực của toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc nên tình hình kinh tế - xã hội trong những năm qua đã có những tiến bộ đáng kể, đời sống nhân dân các dân tộc ổn định, nhiều mặt được cải thiện; kết cấu hạ tầng được xây dựng và tu bổ; cơ cấu kinh tế, sản xuất hàng hoá, ứng 6 dụng khoa học - kỹ thuật có nhiều chuyển biến tích cực, diện đói nghèo đang ngày càng thu hẹp. Tuy nhiên về kinh tế và đời sống của Sơn la nổi lên một số vấn đề sau: - Sơn La là một tỉnh vùng cao biên giới, do kiến tạo địa lý đã hình thành 3 vùng kinh tế - xã hội khá rõ rệt: vùng thấp, vùng giữa và vùng cao (theo tiêu chí đánh giá của Uỷ ban dân tộc miền núi là Khu vực I, II và III ) Vùng thấp: có 72 xã, dân số 405.889 người chiếm 46,05% là nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc: Kinh, Thái, Mường, Tày. Đây là vùng kinh tế khá phát triển, kết cấu hạ tầng được xây dựng, đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện [9, tr. Vùng giữa: có 69 xã, dân số 269.232 người chiếm 30,54% là nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc Thái, Dao, Sinh Mun, Khơ mú, Kháng, La ha.
Đây là vùng kinh tế có phát triển nhưng mức tăng trưởng không cao, đời sống nhân dân chưa ổn định [9, tr. Vùng cao, vùng sâu, biên giới: có 60 xã, dân số 206.255 người chiếm 23,4%, là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào Hmông, kinh tế chưa phát triển, việc tổ chức lại sản xuất, chuyển dịch cơ cấu còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng hầu như không có gì, các hộ đói nghèo tập trung ở khu vực này [9, tr. - Sản xuất của Sơn la chủ yếu là nông lâm nghiệp, trong sản xuất nông nghiệp trồng trọt vẫn là chính, mang tính độc canh một vụ. Cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo ngành kinh tế như sau: Nông lâm nghiệp chiếm 79,7% (1990), 72,6% (1997) tổng GDP toàn tỉnh, công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 7,5% (1990), 9,6% (1997), còn lại là các nghành dịch vụ.
Tổng thu ngân sách hàng năm tại địa phương chỉ đạt xấp xỉ từ 10 đến 25% tổng chi ngân sách, còn lại chủ yếu do Trung ương hỗ trợ [21, tr. Sản xuất nông nghiệp chưa vững chắc, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nền kinh tế chưa thoát khỏi tự cung tự cấp, sản xuất manh mún, việc ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật chưa phổ biến dẫn đến năng suất lao động thấp, kinh tế hàng hoá chậm phát triển, tình trạng phá 7 rừng làm nương rẫy còn khá phổ biến (đặc biệt là ở vùng cao). Do đặc điểm của điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác và sản xuất cây trồng không ổn định vì vậy vẫn còn một bộ phận nhân dân sống du canh, du cư, nhất là người Hmông.469 người sống du canh du cư, số đã định cư nhưng vẫn du canh là 17.055 hộ với 109,803 người [3, tr. Các bản ở rải rác, số lượng bản dưới 30 hộ khá lớn, ở vùng cao không có các điểm tụ cư đông đúc, vì vậy rất khó khăn cho việc đầu tư xây dựng các công trình giao thông, phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và nâng cao dân trí cho người dân.
- Kết cấu hạ tầng nông thôn rất thấp kém, lạc hậu giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt là giao thông liên xã, liên bản. Theo số liệu năm 1997 cả tỉnh còn 38 xã chưa có đường ô tô đến xã, 55 xã chưa có điện thoại, 189 xã chưa có trạm truyền thanh, 157 xã chưa có chợ, 155 xã chưa có trường phổ thông cấp II [46, tr. Đây là những trở ngại lớn cho giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất hàng hoá, nắm bắt và xử lý thông tin. - Về đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh nhất là khu vực II và III còn rất nhiều khó khăn, trình độ kinh tế - xã hội chênh lệch lớn so với các vùng đồng bằng, đô thị trong cả nước và ngay cả giữa các khu vực trong Tỉnh và giữa các dân tộc.
Theo kết quả điều tra, đời sống dân cư Sơn La năm 1995 thu nhập bình quân chung 1 nhân khẩu 1 tháng là 136,8 ngàn đồng , trong đó khu vực thành thị: 286,4 ngàn đồng, khu vực nông thôn: 118,7 ngàn đồng; GDP bình quân đầu người (1999) khoảng gần 200 USD đầu người (cả nước gần 400 USD/người). Số hộ nghèo toàn Tỉnh năm 1993 là 33,8% trong đó thành thị: 15,8%, nông thôn: 37,1%. Tỷ lệ hộ dùng điện, nước máy giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực có sự chênh lệch đáng kể (theo số liệu điều tra 1/4/1999) toàn Tỉnh có 48,73% tổng số hộ dùng điện, trong đó khu vực thành thị là 92,5%, nông thôn là 39,5%, khu vực III: 23,3% (chủ yếu thuỷ điện nhỏ); Tỷ lệ hộ được dùng nước máy, nước sạch là 9,8% ở thành thị, 1,12% ở nông thôn. 8] 8 Tóm lại kinh tế Sơn la vẫn chủ yếu là thuần nông phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển chưa thoát khỏi tính chất tự cung tự cấp.
Đúng như Báo cáo đại hội Tỉnh Đảng bộ Sơn la khoá XI ( 2001-2005) đã đánh giá "Sơn la vẫn còn là một tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu và nhiều mặt còn thấp kém; chuyển hướng sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá chưa đồng đều giữa các vùng, hiệu quả thấp" [46] 1. Các đặc điểm về văn hoá xã hội. - Bản, mường được coi là các đơn vị xã hội cơ sở của các tộc người ở Sơn la. Bao gồm trong nó các gia đình của nhiều dòng họ, hình thái cư trú phổ biến là theo từng dân tộc, từ năm 1990 đến nay xuất hiện một số điểm có sự xen kẽ đa dân tộc như trường hợp người Thái với người Mường, người Thái với người Khơ mú v.
Nhưng riêng với người Hmông thì hiện tượng cư trú xen kẽ ít hơn, họ luôn sống thành từng cụm, từng điểm riêng, ở những nơi biệt lập, giao thông đi lại khó khăn. Ở mức độ rộng hơn là đơn vị hành chính xã, huyện thì hình thái cư trú xen lẫn là khá phổ biến, mỗi xã, mỗi huyện có nhiều bản và nhiều dân tộc sống xen kẽ. Đồng thời cũng có một số xã chỉ thuần một dân tộc là người Thái hoặc người Hmông Sự đoàn kết gắn bó dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của các dân tộc Sơn la. Các dân tộc ở đây thường có mối quan hệ mật thiết gắn bó trong sinh hoạt và sản xuất.
Trong đời sống cộng đồng các dân tộc thường kết nghĩa anh em và khi đã kết nghĩa thì họ thường qua lại thăm hỏi, giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất. Đó chính là cơ sở tạo nên sự đoàn kết giữa các dân tộc trong lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương. Vai trò của quan hệ dòng họ còn rất lớn, quan hệ dòng họ chỉ có trong cùng một dân tộc và trong một dân tộc lại có nhiều dòng họ khác nhau, mỗi dòng họ có nguồn gốc lịch sử riêng biệt, không chỉ mang tích chất huyết thống mà còn thể hiện cả sự phân chia giai cấp và đẳng cấp. Có dòng họ lớn, dòng họ bé, có dòng họ quý tộc.
Trong mỗi dòng họ đều có người đứng đầu là các tộc trưởng, 9 trong mỗi bản, mường đều có già làng, trưởng bản mà vai trò của họ khá quan trọng. Chẳng hạn trưởng tộc được coi là "gốc họ" là người "nắm tay dân ở, mở tay dân đi", rất được dòng họ kính trọng, là người đại diện cho dòng họ trong việc giải quyết mọi quan hệ đối nội và đối ngoại. Thực tế cho thấy vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ là những người có uy tín đối với cộng đồng, dẫu không nằm trong thiết chế chính thống nhưng thông qua họ nhiều công việc xã hội, nhiều vấn đề phức tạp đã được giải quyết. Quan hệ gia đình trong các dân tộc ở Sơn la đều theo chế độ phụ hệ, vai trò của người đàn ông được đề cao, con cái được tính theo họ cha, anh em bên họ nội được coi trọng hơn bên họ ngoại.
Nền văn hoá các dân tộc Sơn la vốn có lịch sử phát triển từ lâu đời với nhiều loại hình đa dạng. Ở Sơn La có sự giao thoa, tiếp biến văn hoá giữa các dân tộc, trong đó ảnh hưởng lớn nhất là nền văn hoá của người Thái, một dân tộc chiếm hơn 54,7%.