Luận văn: Hoằng pháp Phật giáo và đời sống văn hóa người Êđê Đắk Lắk

Dưới đây là meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Nghiên cứu hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk và ảnh hưởng đến đời

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Tôn giáo học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động hoằng pháp Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk

Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Đắk Lắk đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống của người Êđê tại huyện Cư M’gar. Nghiên cứu tập trung phân tích mối tương quan giữa các hoạt động truyền giáo Phật giáo và đời sống văn hóa tộc người Êđê. Hoằng pháp không chỉ truyền bá giáo lý mà còn góp phần duy trì bản sắc văn hóa thông qua các nghi lễ, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng. Tại huyện Cư M’gar, nơi tập trung đông đảo người Êđê, hoạt động hoằng pháp đã tác động tích cực đến đời sống tâm linh, góp phần xóa bỏ mê tín dị đoan và nâng cao nhận thức cộng đồng. Sự kết hợp giữa giáo lý Phật giáo với tín ngưỡng truyền thống đã tạo nên những nét độc đáo trong đời sống văn hóa hiện đại của người Êđê.

1.1. Khái niệm hoằng pháp trong Phật giáo

Hoằng pháp trong Phật giáo được hiểu là việc truyền bá giáo lý của Đức Phật đến quần chúng nhằm mục đích giác ngộ, giải thoát. Tại tỉnh Đắk Lắk, hoạt động hoằng pháp của GHPGVN được triển khai thông qua các khóa tu, thuyết pháp, và các hoạt động thiện nguyện. Đối tượng hướng tới chủ yếu là người dân tộc thiểu số, trong đó có người Êđê. Hoằng pháp không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt giáo lý mà còn là cầu nối giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc, giúp cộng đồng hiểu sâu hơn về các giá trị nhân văn của Phật giáo. Các phương pháp hoằng pháp đa dạng, từ thuyết giảng trực tiếp đến ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền bá giáo lý.

1.2. Bối cảnh xã hội huyện Cư M gar

Huyện Cư M’gar là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Êđê, nơi có nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, trước sự tác động của quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa, đời sống văn hóa truyền thống của người Êđê đang dần mai một. Sự xuất hiện của các tôn giáo mới như Phật giáo, Công giáo, Tin lành đã tạo nên những biến đổi đáng kể trong đời sống tâm linh và văn hóa của cộng đồng. Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk đã nỗ lực trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống thông qua hoạt động hoằng pháp, góp phần duy trì bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập.

II. Ảnh hưởng của hoạt động hoằng pháp đến đời sống văn hóa Êđê

Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk đã tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa của người Êđê tại huyện Cư M’gar. Qua nghiên cứu trường hợp người Êđê, có thể thấy rằng giáo lý Phật giáo đã góp phần nâng cao nhận thức về đạo đức, lối sống lành mạnh và tinh thần đoàn kết cộng đồng. Các khóa tu, thuyết pháp không chỉ là nơi truyền đạt giáo lý mà còn là không gian giao lưu văn hóa, giúp người Êđê hiểu rõ hơn về giá trị của các phong tục truyền thống. Tuy nhiên, sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa cũng đặt ra những thách thức trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống. Một số nghi lễ truyền thống của người Êđê đã bị thay thế hoặc biến đổi dưới tác động của giáo lý Phật giáo.

2.1. Tác động tích cực đến đời sống tinh thần

Hoằng pháp đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người Êđê thông qua việc giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh và tinh thần đoàn kết. Các khóa tu, thuyết pháp không chỉ là nơi truyền đạt giáo lý mà còn là không gian giao lưu văn hóa, giúp người Êđê hiểu rõ hơn về giá trị của các phong tục truyền thống. Giáo lý Phật giáo khuyến khích lối sống giản dị, từ bi và hỷ xả, những giá trị này đã góp phần làm giảm bớt những mê tín dị đoan trong cộng đồng. Ngoài ra, hoạt động hoằng pháp còn thúc đẩy tinh thần tương thân tương ái, giúp cộng đồng Êđê vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.

2.2. Thách thức trong bảo tồn văn hóa truyền thống

Sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa đã tạo ra những biến đổi trong đời sống văn hóa của người Êđê. Một số nghi lễ truyền thống như cúng Yang, lễ hội mừng lúa mới đã bị thay thế hoặc biến đổi dưới tác động của giáo lý Phật giáo. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của tộc người Êđê. Ngoài ra, sự du nhập của các tôn giáo mới đã tạo nên những xung đột trong đời sống tâm linh của cộng đồng, khiến nhiều người Êđê cảm thấy bối rối trong việc lựa chọn giữa tín ngưỡng truyền thống và giáo lý Phật giáo.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hoằng pháp

Để nâng cao hiệu quả hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk đối với người Êđê tại huyện Cư M’gar, cần có những giải pháp thiết thực và phù hợp. Trước hết, cần tăng cường đào tạo đội ngũ hoằng pháp viên có hiểu biết sâu sắc về văn hóa Êđê, nhằm tạo sự đồng cảm và gần gũi trong quá trình truyền bá giáo lý. Thứ hai, cần xây dựng các chương trình hoằng pháp đa dạng, kết hợp giữa giáo lý Phật giáo và các giá trị văn hóa truyền thống của người Êđê. Thứ ba, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền bá giáo lý, giúp tiếp cận rộng rãi hơn đến cộng đồng. Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác giữa Giáo hội Phật giáo và các cấp chính quyền địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hoằng pháp.

3.1. Đào tạo đội ngũ hoằng pháp viên

Đội ngũ hoằng pháp viên đóng vai trò then chốt trong việc truyền bá giáo lý Phật giáo đến cộng đồng người Êđê. Để nâng cao chất lượng hoạt động hoằng pháp, cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về văn hóa Êđê cho các hoằng pháp viên. Họ cần được trang bị kiến thức về ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng và đời sống văn hóa của người Êđê. Ngoài ra, cần tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng thuyết pháp, giao tiếp và ứng xử văn hóa để đảm bảo hoạt động hoằng pháp diễn ra hiệu quả và gần gũi với cộng đồng. Việc đào tạo đội ngũ hoằng pháp viên có hiểu biết sâu sắc về văn hóa Êđê sẽ giúp xóa bỏ rào cản ngôn ngữ và văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá giáo lý.

3.2. Xây dựng chương trình hoằng pháp đa dạng

Chương trình hoằng pháp cần được xây dựng đa dạng, kết hợp giữa giáo lý Phật giáo và các giá trị văn hóa truyền thống của người Êđê. Các hoạt động hoằng pháp có thể bao gồm thuyết pháp, khóa tu, lễ hội văn hóa, và các chương trình thiện nguyện. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống thông qua hoạt động hoằng pháp. Ví dụ, có thể tổ chức các buổi thuyết pháp về giáo lý Phật giáo kết hợp với trình diễn các điệu múa, hát dân ca Êđê. Điều này không chỉ giúp truyền bá giáo lý mà còn góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng trong thực tiễn

Nghiên cứu về hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk đối với người Êđê tại huyện Cư M’gar đã cho thấy những tác động tích cực cũng như những thách thức trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống. Hoằng pháp không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần của cộng đồng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và hội nhập văn hóa. Tuy nhiên, để hoạt động hoằng pháp thực sự hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội Phật giáo, chính quyền địa phương và cộng đồng người Êđê. Các giải pháp đề xuất như đào tạo đội ngũ hoằng pháp viên, xây dựng chương trình hoằng pháp đa dạng, và ứng dụng công nghệ thông tin sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hoằng pháp trong tương lai. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Êđê cần được đặt lên hàng đầu trong quá trình triển khai hoạt động hoằng pháp.

4.1. Tầm quan trọng của hoạt động hoằng pháp

Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Êđê. Thông qua hoằng pháp, giáo lý Phật giáo đã góp phần nâng cao nhận thức về đạo đức, lối sống lành mạnh và tinh thần đoàn kết cộng đồng. Hoằng pháp không chỉ là việc truyền bá giáo lý mà còn là cầu nối giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc, giúp cộng đồng hiểu sâu hơn về các giá trị nhân văn. Đặc biệt, hoạt động hoằng pháp đã góp phần xóa bỏ mê tín dị đoan và thúc đẩy tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng người Êđê.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo tỉnh Đắk Lắk cần được đẩy mạnh và phát triển theo hướng bền vững. Các giải pháp như đào tạo đội ngũ hoằng pháp viên có hiểu biết sâu sắc về văn hóa Êđê, xây dựng chương trình hoằng pháp đa dạng, và ứng dụng công nghệ thông tin sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác giữa Giáo hội Phật giáo, chính quyền địa phương và cộng đồng người Êđê để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hoằng pháp. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Êđê cần được đặt lên hàng đầu trong quá trình triển khai hoạt động hoằng pháp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sĩ hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện cư mgar

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nói Phật giáo là một trong những tôn giáo để lại dấu ấn khá đậm nét lên đời sống văn hóa ngƣời Việt từ tƣ tƣởng, quan điểm đến nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng. Tƣ tƣởng Phật giáo thấm sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của ngƣời Việt, thành lời nhắc nhở của tổ tiên truyền đến con cháu, rằng phải ăn hiền ở lành, rằng dù sao đi nữa, cũng cứ tin “gieo gió gặt bão”. Quan điểm Phật giáo đã đi từ hệ thống giáo lý của một tôn giáo vào cuộc đời, hình thành nên những tâm hồn Việt luôn biết tự nhắc thức nhau: hãy bao dung với ngƣời, hãy biết “tùy duyên” mà hành xử, bình tâm mà đón gió cuộc đời, bởi đó là tặng phẩm, là thử thách thú vị mà đời dành cho ta.

Nghi lễ Phật giáo dạy con ngƣời biết cúi đầu tôn trọng, tri ân các bậc Thánh nhân, tiền hiền, những ngƣời có công với làng xã, dân tộc. Trong sinh hoạt cộng đồng, Phật giáo trao cho những tín đồ dân dã của mình niềm tin yêu hồn nhiên nhƣng hết mực nhân văn rằng ngƣời chết và cả ngƣời sống đều có thể sẻ chia cùng nhau ƣớc vọng bình an giữa sóng gió luân hồi chỉ bằng sự thành tâm, lòng yêu thƣơng dành cho đồng loại trong từng cuộc lễ cầu an, cầu siêu… Điều gì đã khiến Phật giáo trở nên gần gũi, thiết thân trong lòng dân tộc Việt đến vậy? Có rất nhiều lý do đƣợc đƣa ra. Một trong những lý do ấy chính là sự cộng hƣởng, hòa nhập rất tự nhiên nhƣng không kém phần thú vị giữa tƣ tƣởng, quan điểm của Phật giáo và lối sống, tâm hồn của dân tộc Việt nói chung. Vì vậy, nghiên cứu, khảo sát về ảnh hƣởng, mối tƣơng quan giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam luôn thu hút đƣợc không ít sự quan tâm của khoa học và cả tôn giáo.

Tuy nhiên, diện mạo văn hóa Việt Nam không chỉ đƣợc tạo nên từ văn hóa của tộc ngƣời Việt. Do đó, nghiên cứu tƣơng quan giữa Phật giáo và đời sống văn hóa Việt Nam, không thể bỏ qua mối tƣơng quan dấu ấn Phật giáo trong đời sống văn hóa của các đồng bào dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Xuất phát từ suy nghĩ ấy, chúng tôi chọn đề tài: Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk và đời sống văn hóa của ngƣời Êđê hiện nay (nghiên cứu trƣờng hợp 1 ngƣời Êđê ở huyện }ƣ\ Mgar). Với đề tài trên, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu hơn mối tƣơng quan cũng nhƣ những ảnh hƣởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của cộng đồng ngƣời Êđê.

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, luận văn hy vọng sẽ mang lại cho mọi ngƣời thêm một điểm nhìn, cách nhìn về Phật giáo trong đời sống văn hóa của tộc ngƣời Êđê ở Đắk Lắk nói riêng, và tộc ngƣời Êđê ở Việt Nam nói chung. Thông qua đó, có thể có hƣớng hoằng pháp, giải pháp tích cực, phù hợp nhất để bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, đồng thời khắc phục, hạn chế những cách nghĩ, cách sống chƣa phù hợp, lệch lạc (nếu có) của tộc ngƣời Êđê ở Đắk Lắk hiện nay, để văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo trở thành một dòng chảy liền mạch, thông suốt, dung hòa một cách trọn vẹn trong dòng chủ lƣu của văn hóa và Phật giáoViệt Nam. Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Những công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa của tộc người Êđê Trong số 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, tộc ngƣời Êđê đƣợc xem nhƣ là một trong số những tộc ngƣời thiểu số ở Tây Nguyên có dân số đông nhất.

Theo ƣớc tính, có hơn 331.000 ngƣời Êđê cƣ trú ở các tỉnh Đắk Lắk, phía nam của tỉnh Gia Lai và miền tây của hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên. Ngƣời Êđê vốn thuộc ngữ hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo (Malayo – Polynesia) cũng gọi là Austonesia, tức là Nam Đảo, có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển đảo. Mặc dù đã chuyển cƣ vào miền Trung Việt Nam, rồi di dân lên vùng đất cao nguyên Tây Nguyên khoảng cuối thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ XV, song trong tâm thức tộc ngƣời Êđê, bến nƣớc và con thuyền vẫn là những hình ảnh chƣa hề phai nhạt. Điều này giúp cho ngƣời Êđê tạo nên dấu ấn văn hóa riêng cho chính mình giữa vô vàn sắc màu văn hóa của 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam từ bao đời qua.

Có thể nói, chính nhờ những đặc trƣng riêng về văn hóa, cách sinh hoạt cộng đồng, ngƣời Êđê đã thu hút đƣợc không ít sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều ngƣời. Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu này thƣờng chỉ khảo sát chủ yếu về đặc trƣng văn hóa, cách thức sinh hoạt cộng đồng của ngƣời Êđê đặt trong 2 tổng thể của văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên, còn khá ít những công trình, tài liệu đề cập một cách đầy đủ, chuyên sâu về tộc ngƣời Êđê. Có thể tạm chia các tài liệu, công trình nghiên cứu đó thành hai nhóm: Nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên và nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một nền văn hóa đặc trưng, riêng biệt. Ở nhóm thứ nhất, nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, có thể kể đến“Văn hóa dân gian Tây Nguyên, một cách nhìn”.

Trong công trình này, Linh Nga Niê Kdam đƣa ra nhận xét khái quát về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên (có ngƣời Êđê): “Có thể thấy, văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có bản sắc riêng, độc đáo nhưng không hề tách rời và có tính thống nhất trong bản sắc văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [42, tr. Tuy nhận xét còn chung chung, chƣa chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của “bản sắc riêng, độc đáo” của văn hóa Tây Nguyên, song, tác giả đã bƣớc đầu gợi mở cho ngƣời đọc những ấn tƣợng ban đầu để đi sâu vào tìm hiểu văn hóa của đồng bào các dân tộc, trong đó có ngƣời Êđê. Trong “Trang phục truyền thống của người Ê Đê Bih” tác giả Lƣơng Thanh Sơn đề cập đến dân tộc Êđê và các nhóm tộc ngƣời ở tỉnh Đắk Lắk, tác giả cho rằng: “ Người Bih là một nhóm của dân tộc Ê đê, có cùng nguồn gốc ngôn ngữ Austronesian( Malayô-Poolinêdi) lục địa. Cư dân Bih có quan hệ nguồn gốc với người Chăm, Jarai, Chu ru, Raglai và có quan hệ cộng cư với các dân tộc khác trong khu vực như M’nông và các nhóm của M’nông…tập sách Trang phục truyền thống người Bih sẽ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ đó, đồng thời với việc tìm hiểu trang phục người Bih thông qua những đặc trưng và ứng xử tộc người sẽ giúp các nhà khoa học trong việc đánh giá trình độ phát triển kinh tế- xã hội-văn hóa của cư dân Bih.

Từ đó có những định hướng đúng đắn cho họ trong việc lựa chọn những ứng xử thích hợp của dân tộc mình trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai. Trong cuốn “Sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay”. Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa 3 đã phân tích về giá trị xã hội truyền thống và vai trò của nó trong đời sống xã hội, thực trạng biến đổi các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đồng thời đƣa ra một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huy các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Đến “Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên”, Linh Nga Niê Kdam đi sâu vào nghiên cứu về các nghi lễ, sinh hoạt truyền thống, tôn giáo tín ngƣỡng của đồng bào Tây Nguyên, cụ thể là ở ngƣời Êđê.

Công trình nghiên cứu gồm 3 chƣơng.Trong đó, chƣơng I – giới thiệu khái quát về địa bàn cƣ trú; các tộc ngƣời Jrai, Êđê, Sê đăng, Bahnar, M'nông, K'ho; đời sống văn hóa, kinh tế, sinh hoạt cộng đồng của các tộc ngƣời. Chƣơng II, đi vào tìm hiểu một số nghề truyền thống của các tộc ngƣời. Chƣơng III, đánh giá về vai trò của nghề thủ công trong đời sống cộng đồng quá khứ và hiện tại. Từ đây, tác giả đƣa ra một số nhận xét về tộc ngƣời Êđê: “Tùy theo các lễ cúng lớn hay nhỏ, điều cầu xin quan trọng đến đâu đối với gia đình hoặc cộng đồng, mà dùng lễ vật hiến sinh là gà, heo, hay bò.

Tuy nhiên, các lễ cúng lớn bao giờ cũng phải có trâu. Các nhóm thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo đều có ăn trâu (hiến sinh) nhưng tộc người ÊĐê không có nghi lễ và hình thức đâm trâu” [43, tr. Với nhận xét này, có thể thấy, tộc ngƣời Êđê cũng có những đặc trƣng riêng biệt về văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, không hoàn toàn “đồng nhất” với văn hóa của các tộc ngƣời ở địa bàn Tây Nguyên. Bên cạnh đó, khi bàn về sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng ngƣời Êđê, Jrai, Linh Nga Niê Kdam thấy rằng: “Hôn nhân Ê Đê, Jrai mang nhiều tính nhân văn: từ tục “ở dâu” để báo hiếu cha mẹ chồng, đến việc không ép buộc, cũng không áp đặt nặng nề về lễ vật dẫn cưới, thậm chí nếu chưa đủ lễ vật hai họ sẽ cho nợ và tổ chức cưới lớn sau.

Đặc biệt việc trao vòng bao giờ cũng được tổ chức trang trọng, tuy hình thức nhìn vào là đơn giản, nhưng lại được đảm bảo như một lời đính ước bền vững. Sau này bên nào vi phạm sẽ bị phạt đền bù cho cả phía bên kia lẫn cộng đồng” [43, tr. Đi xa hơn nữa, khi bàn về tín ngƣỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc, tác giả cho rằng: “Tính cho đến những năm đầu thế kỉ XXI đã có đến 90% các dân tộc bản địa Tây Nguyên từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo 4 và Tin Lành. Nhưng có một điều lạ là: số người theo đạo Phật (gần như “quốc đạo” của Việt Nam) lại hầu như rất ít.

Do đồng bào theo tập quán bầy đàn, nên cùng đồng tâm theo các tôn giáo du nhập từ phương Tây? Hay các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không phải là đối tượng tuyên truyền được lựa chọn của Phật giáo? Điều này chưa có cuộc khảo sát nào để đưa ra kết luận chính thức” [43.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ