Luận văn: Hoạt động hoằng pháp và xã hội của Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không

Nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động hoằng pháp và đóng góp xã hội của Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không giai đoạn 1906-1997. Luận văn thạc sĩ phân tích tầm ảnh

Chuyên ngành

Tôn giáo học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hoạt động hoằng pháp xã hội ni trưởng Diệu Không

Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không (1906–1997) là vị ni sư lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, nổi bật với vai trò tiên phong trong công tác hoằng pháp và hoạt động xã hội. Bà sinh tại Huế, xuất gia năm 1934, thọ giới Tỳ kheo ni năm 1944 tại giới đàn Thuyền Tôn. Hoạt động của bà không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn mở rộng sang lĩnh vực giáo dục, y tế và đấu tranh vì Đạo pháp. Ni trưởng Diệu Không là người sáng lập Ni viện Diệu Đức, đào tạo hàng ngàn ni cô kế thừa sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Bên cạnh đó, bà tham gia tích cực vào phong trào Phật giáo 1963, đấu tranh chống chính sách đàn áp tôn giáo. Những đóng góp của bà được ghi nhận qua các chức vụ như Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật giáo Thừa Thiên Huế. Cuộc đời bà là minh chứng cho tinh thần phụng sự Đạo pháp và dân tộc.

1.1. Thân thế và sự nghiệp khởi đầu

Ni trưởng Diệu Không sinh năm 1906 tại Huế, trong gia đình có truyền thống Phật giáo. Năm 1934, bà xuất gia theo Ni trưởng Diệu Tịnh tại Sa Đéc, bắt đầu con đường tu học. Năm 1944, bà thọ giới Tỳ kheo ni tại giới đàn Thuyền Tôn dưới sự chứng minh của Hòa thượng Giác Nhiên. Sau khi thọ giới, bà tích cực tham gia các khóa tu học, nghiên cứu kinh điển và sớm bộc lộ khả năng giảng dạy. Năm 1950, bà thành lập Ni viện Diệu Đức tại Huế, trở thành trung tâm đào tạo ni cô đầu tiên ở miền Trung. Sự nghiệp ban đầu của bà gắn liền với việc khôi phục và phát triển Ni giới, đặt nền móng cho hoạt động hoằng pháp sau này.

1.2. Bối cảnh Phật giáo Huế đầu thế kỷ XX

Vào đầu thế kỷ XX, Phật giáo xứ Huế chịu ảnh hưởng nặng nề từ chính sách thực dân Pháp và tư tưởng phong kiến. Ni giới chưa được công nhận đầy đủ vai trò, hoạt động hoằng pháp còn hạn chế. Trước tình hình đó, các vị cao tăng như Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Mật Hiển đã nỗ lực cải cách, khuyến khích xuất gia tu học. Ni trưởng Diệu Không lớn lên trong giai đoạn chuyển giao, chứng kiến sự khủng hoảng tinh thần của xã hội và nhu cầu cấp thiết về giáo lý Phật đà. Bối cảnh này thúc đẩy bà theo đuổi con đường hoằng pháp, góp phần hồi sinh Phật giáo xứ Huế.

II. Phân tích hoạt động hoằng pháp của ni trưởng Diệu Không

Hoạt động hoằng pháp của Ni trưởng Diệu Không mang tính hệ thống và đa dạng, bao gồm giảng dạy, sáng tác kinh sách, tổ chức khóa tu và vận động quần chúng. Bà là tác giả của nhiều tác phẩm như 'Kinh hành niệm Phật', 'Thiền tông yếu chỉ', góp phần truyền bá giáo lý Đại thừa đến công chúng. Ni viện Diệu Đức do bà sáng lập trở thành mô hình đào tạo ni cô, kết hợp giữa tu học và giáo dục thế tục. Bà còn tổ chức các khóa tu mùa hè, thu hút đông đảo Phật tử tham gia. Đặc biệt, bà chú trọng giảng pháp bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ của đại chúng. Những nỗ lực này nhằm mục đích khôi phục tinh thần Phật giáo thuần khiết, chống lại các hiện tượng mê tín dị đoan. Hoạt động hoằng pháp của bà không chỉ giới hạn trong phạm vi chùa chiền mà còn mở rộng đến cộng đồng, góp phần nâng cao nhận thức tôn giáo.

2.1. Phương pháp giảng dạy và truyền bá kinh điển

Ni trưởng Diệu Không áp dụng phương pháp giảng dạy linh hoạt, kết hợp giữa thuyết giảng, thảo luận và thực hành. Bà thường xuyên tổ chức các buổi thuyết pháp tại chùa Diệu Đức, giảng về Kinh Kim Cương, Kinh Pháp Hoa, hoặc các bộ luận Phật giáo. Để phù hợp với trình độ của Phật tử, bà chuyển ngữ kinh điển sang tiếng Việt, sử dụng ngôn ngữ đơn giản nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa sâu sắc. Bên cạnh đó, bà khuyến khích ni cô và Phật tử tham gia viết sách, sáng tác thơ ca Phật giáo nhằm phổ biến giáo lý. Phương pháp này giúp kinh điển đến gần hơn với quần chúng, đặc biệt là tầng lớp bình dân.

2.2. Tổ chức khóa tu và các hoạt động cộng đồng

Ni trưởng Diệu Không tổ chức nhiều khóa tu mùa hè tại Ni viện Diệu Đức, kéo dài từ 1 đến 3 tháng, thu hút hàng trăm Phật tử tham gia. Các khóa tu bao gồm nghi thức tụng kinh, thiền định, nghe pháp và thực hành từ thiện. Bà còn thành lập các lớp học Phật pháp cho cư sĩ, nhằm nâng cao hiểu biết về giáo lý. Ngoài ra, bà vận động xây dựng trường học, bệnh xá tại các vùng nông thôn, kết hợp hoạt động từ thiện với hoằng pháp. Những hoạt động này không chỉ giúp Phật giáo phát triển mà còn góp phần cải thiện đời sống xã hội, thể hiện tinh thần 'từ bi cứu khổ' của đạo Phật.

III. Đóng góp xã hội và đấu tranh vì Đạo pháp

Ni trưởng Diệu Không không chỉ là nhà hoằng pháp mà còn là nhà hoạt động xã hội và chiến sĩ đấu tranh vì Đạo pháp. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, bà tham gia phong trào Phật giáo 1963, đấu tranh chống chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà là nhân chứng lịch sử, cận kề cái chết khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Những lời dặn dò của hòa thượng là động lực để bà tiếp tục sống và phụng sự Đạo pháp. Sau năm 1975, bà tiếp tục tham gia xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, góp phần vào công cuộc tái thiết đất nước. Bà cũng vận động thành lập các cơ sở từ thiện, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, thể hiện tinh thần 'vị tha' của Phật giáo. Những đóng góp của bà được ghi nhận qua các chức vụ quan trọng trong Giáo hội.

3.1. Tham gia phong trào Phật giáo 1963

Năm 1963, Ni trưởng Diệu Không tích cực tham gia phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà là một trong những vị ni sư cận kề sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, nghe trực tiếp lời dặn dò của ngài: 'Con nên ráng sống cho Đạo'. Sau sự kiện này, bà tiếp tục vận động quần chúng, tổ chức các buổi thuyết pháp phản đối đàn áp. Những hoạt động của bà góp phần làm chấn động dư luận, thúc đẩy sự đoàn kết của Phật giáo Việt Nam. Bà cũng tham gia đàm phán với chính quyền, đòi quyền bình đẳng tôn giáo, thể hiện tinh thần kiên cường vì Đạo pháp.

3.2. Hoạt động xã hội và từ thiện

Ni trưởng Diệu Không thành lập nhiều cơ sở từ thiện như trường học, bệnh xá, trại tế bần nhằm giúp đỡ người nghèo, nạn nhân chiến tranh. Tại Huế, bà vận động xây dựng trường tiểu học Diệu Đức, đào tạo hàng ngàn học sinh nghèo. Bà cũng tham gia vận động quốc tế, kêu gọi hỗ trợ cho các nạn nhân chiến tranh tại miền Trung. Những hoạt động này không chỉ giúp cải thiện đời sống cộng đồng mà còn góp phần nâng cao hình ảnh của Phật giáo trong xã hội. Bà còn tổ chức các buổi phát thuốc miễn phí, khám bệnh cho người dân vùng sâu vùng xa, thể hiện tinh thần 'cứu khổ ban vui' của đạo Phật.

IV. Di sản và ảnh hưởng của ni trưởng Diệu Không

Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không để lại di sản to lớn cho Phật giáo Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo ni cô và hoạt động xã hội. Ni viện Diệu Đức do bà sáng lập trở thành mô hình đào tạo ni cô tiên phong, góp phần khôi phục vai trò của Ni giới trong Phật giáo. Bà cũng là tác giả của nhiều tác phẩm Phật giáo, góp phần truyền bá giáo lý đến công chúng. Những đóng góp của bà trong phong trào Phật giáo 1963 và hoạt động từ thiện được ghi nhận qua các chức vụ quan trọng trong Giáo hội. Di sản của bà không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn mở rộng sang lĩnh vực giáo dục, y tế và đấu tranh vì hòa bình. Cuộc đời và sự nghiệp của bà là nguồn cảm hứng cho thế hệ ni cô và Phật tử tiếp nối, thể hiện tinh thần phụng sự Đạo pháp và dân tộc.

4.1. Ảnh hưởng đến Ni giới và Phật giáo Việt Nam

Ni trưởng Diệu Không là biểu tượng của Ni giới Việt Nam thế kỷ XX, mở đường cho thế hệ ni cô sau này theo đuổi con đường tu học và hoằng pháp. Ni viện Diệu Đức do bà sáng lập trở thành trung tâm đào tạo ni cô hàng đầu, kết hợp giữa tu học và giáo dục thế tục. Bà cũng thúc đẩy sự bình đẳng giới trong Phật giáo, khuyến khích ni cô tham gia các hoạt động xã hội và chính trị. Những đóng góp của bà góp phần thay đổi nhận thức về vai trò của Ni giới, từ chỗ bị xem nhẹ trở thành lực lượng quan trọng trong Giáo hội. Di sản của bà được ghi nhận qua các chức vụ như Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

4.2. Tinh thần phụng sự Đạo pháp và dân tộc

Ni trưởng Diệu Không thể hiện tinh thần phụng sự Đạo pháp và dân tộc qua mọi hoạt động của mình. Từ việc sáng lập Ni viện Diệu Đức, tổ chức khóa tu, đến tham gia phong trào Phật giáo 1963 và hoạt động từ thiện, bà luôn đặt lợi ích của Đạo pháp và cộng đồng lên hàng đầu. Những lời dặn dò của hòa thượng Thích Quảng Đức trước khi viên tịch đã trở thành kim chỉ nam cho cuộc đời bà: 'Con nên ráng sống cho Đạo'. Dù tuổi cao sức yếu, bà vẫn miệt mài hoạt động, thể hiện tinh thần kiên cường và tận tụy. Di sản của bà là minh chứng cho tinh thần 'vị tha', 'vị pháp', góp phần xây dựng một xã hội công bằng và nhân ái.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Hoạt động hoằng pháp và xã hội của ni trưởng thích nữ diệu không 1906 1997 luận văn thạc sỹ

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nhân sinh, xã hội lên hàng đầu, nhiều thành viên ưu tú trong các dòng họ lớn của nước ta vươn ra ngoài sự ảnh hưởng, bao bọc của đại gia đình, theo tiếng gọi của dân tộc xung phong làm việc cách mệnh. Chính vì thế trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, nước ta “nở rộ” nhiều tầng lớp và lực lượng thanh niên trí thức dồi dào sục sôi ý chí cách mạng, tiên phong trong các phong trào cải cách tân tiến, hướng đến xây dựng một xã hội tốt đẹp. Cái vinh hoa, giàu có của hào môn được mỗi người ý thức rất rõ, nếu nước nhà không được chủ quyền, bị thế lực ngoại bang kìm kẹp thì những vinh hoa, quyền thế đó cũng mất. Chính vì thế, đầu thế kỷ XX, lịch sử đấu tranh dân tộc ta hội tựu đông đảo lực lượng thanh niên nam nữ trí thức tham gia đấu tranh vì tự do dân tộc, vì chủ quyền đất nước.

Trở lại vấn đề, cũng như các anh chị mình, bà Hồ Thị Hạnh học chữ Hán, cổ văn, trau dồi “công, dung, ngôn, hạnh” … Khi hai chị gái lớn của bà đến tuổi trưởng thành sớm thành gia lập thất với các đối tượng thuộc gia đình môn đăng hộ đối, bà và người chị kế, tức bà Hồ Thị Chỉ, được thân phụ cho đi học tiếp tại trường Đồng Khánh, học tiếng Pháp, tiếp thu nền văn hóa tiến bộ phương Tây. Đến khi Hồ Thị Chỉ gặp vua Khải Định và được tuyển vào hoàng cung làm Đệ nhất Giai phi. Vốn dĩ bà Hồ Thị Chỉ chỉ một lòng một dạ với vua Duy Tân nên nhất định không đồng ý, còn có ý đòi tự vẫn. Chính bà Hồ Thị Hạnh đã khuyên nhủ chị gái mình bằng những lời lẽ sắc sảo chí tình, chí nghĩa và thấu rõ thời cuộc khiến bà Hồ Thị Chỉ cảm phục.

Có lẽ trong con người bà, hạt giống “từ bi, bác ái” vốn sẵn, luôn vì tình chung hơn là tình riêng nên bà không ngần ngại khuyên nhủ chị gái: “Thầy và anh Khải [anh trai đầu của bà] đều là văn nhân, nay về làm ruộng sao được, huống nữa còn bốn anh em đang học ở Hà Nội, ai là người nuôi các anh nên tương lai? Nếu 17 chị không biết hy sinh, thì chị còn thua nàng Kiều bán mình chuộc cha. Còn ngài Duy Tân đã vì quốc gia, vậy sao chị không vì gia đình như ngài đã hy sinh vì nước?” [20, tr. Bà lúc này cũng chỉ 15, 16 tuổi, một cô gái thượng lưu sống thời lúc bấy giờ có thể thốt lên những lời nói như thế, đã thể hiện được cái tâm, cái “tầm” của một nữ nhi khí phách và không ai không thể nể phục. Đến tuổi trưởng thành, là một tiểu thơ con nhà quyền quý, bà ý thức được vị thế và trách nhiệm của mình.

Bà không “tính” cho mình như mong ngóng tìm nơi gửi gắm cao sang, hưởng thụ cuộc sống vương giả, mà bà cố trau dồi bản thân, thuần thục sự giáo dục nề nếp gia phong, làm tròn hiếu đạo, giữ gìn truyền thống và gắn kết anh em. Mặc dù sớm tiếp cận đời sống phương Tây nhưng bà không bị tác động bởi lối sống xa hoa, hưởng thụ vật chất của tầng lớp thượng lưu. Bà ham đọc sách về các tư tưởng tiến bộ các nước, về các cuộc cách mạng các nước và những con người tạo nên sự thúc đẩy tiến bộ cho xã hội như Gandhi ở Ấn Độ, phong trào cách mạng Pháp, Nga… Có lẽ, bà đã sớm định hình bản lĩnh “kề vai sát cánh” làm nên việc lớn đóng góp cho xã hội và cho đất nước. Nghiên cứu đến đây, chúng tôi cho rằng, hướng Đời hướng Đạo vốn đã sớm sẵn có trong định hướng của bà.

Một thiếu nữ vào độ tuổi cập kê nhưng không màng tới thành gia lập thất, trong khi đất nước và con người Việt Nam sục sôi bởi ý chí cách mạng, nhiều chí sĩ cách mạng đã “ngã xuống” thì thế hệ sau “dâng lên”, thì việc một cô gái như Hồ Thị Hạnh sớm bộc lộ chí hướng của mình, dù là cơ duyên Đạo pháp hay hoạt động cách mạng vì dân tộc, bà cũng đã dấn thân. Năm 1925, lúc này bà khoảng 18, 19 tuổi, một sự kiện mà bà cho là “một biến cố của cuộc đời tôi” đã xảy ra, đó là bà bị thân mẫu ép lấy chồng, lấy ai cũng được. Một tiểu thư tài sắc, đức hạnh, vốn dĩ là đối tượng của rất nhiều gia đình môn đăng hộ đối ngấp nghé nhưng bà đều từ chối. Thân mẫu bà buồn phiền, 18 bàn với thân phụ bà để bà “đi đó đi đây” gặp gỡ nhiều đối tượng mà bà ưng ý.

Cha của bà nhân chuyến sang Campuchia dự lễ Trà tỳ theo nghi lễ ngoại giao giữa hai nước, đã đem bà đi theo. Với lễ phục tiêu biểu của con nhà quyền quý, bà đã cư xử đúng mực giữ thể diện cho nước nhà. Nhưng khi hoàng tử Cao Miên ngỏ ý sẽ qua Việt Nam để gặp gỡ bà. Bà thưa lại với phụ thân mình và chuyển lời từ chối.

Cha mẹ bà mặc dù buồn lòng nhưng vẫn tôn trọng ý kiến của bà. Sau chuyến công du, thân phụ bà ghé Sài Gòn, để bà có cơ hội gặp gỡ tiếp xúc nhiều thanh niên cùng trang lứa hay cùng đi dự tiệc Tây, tiệc ta, nghe hòa nhạc, nhảy đầm… Như đến khi phụ thân bà hỏi có “chấm” ai vừa ý không? Bà thưa rằng các chàng trai đó sống theo Tây quá và tính còn con nít, mặc dù họ chỉ lớn hơn bà vài tuổi. Bà lý luận rằng, họ ham chơi trong lúc dân mình còn quá nghèo khổ. Họ như thế là con nít, còn người lớn thì biết lo cho gia đình, cho xã hội.

Phụ thân bà lắc đầu, cho là bà có suy nghĩ “lạ đời”. Có thể thấy, dù tuổi đời còn trẻ, nhưng suy nghĩ, cảm nghĩ về thế cuộc, về nhân sinh xã hội đã khiến bà không đồng điệu với các bạn cùng trang lứa. Bà càng không tìm được người “vừa ý” để lập gia đình. Đến khi mẹ bà dọa chết cũng không cho bà để tang, rằng: “Dù ai, bà cũng gả…”, bà nghĩ mãi, bởi không làm theo mẹ bà sẽ dằn vặt, mà nếu làm theo, cuộc đời bà như “vòng xoáy định sẵn” chẳng khác nào như các chị gái bà, bà sẽ khổ.

Bà “ước gì lúc ấy có một chùa Sư nữ để mình được vào chùa tu” [lúc bấy giờ ở cố đô Huế chưa có chùa dành cho nữ đi tu]. Bà có ý định xuất gia nhưng điều kiện chưa được phép, lại không muốn mình dấn thân quá sâu vào thế tục, bà quyết định nhận nuôi sáu đứa con mồ côi, gồm Cao Thị Huân, Cao Xuân Lữ, Cao Xuân Phôi, Cao Xuân Duẩn, Cao Thị Xuân Nữ Oanh, Cao Thị Xuân Hương và sau đó nhận lời làm vợ của ông Cao Xuân Xang (1889 – 1930), con của cụ Cao Xuân Dục (1843 – 1923). Bản thân ông Cao Xuân Xang đang mắc bệnh hiểm nghèo, một mình “gà trống nuôi con” - sáu đứa con nhỏ dại như nói trên. 19 Cũng lấy chồng, nhưng với điều kiện hoàn cảnh như trên, có lẽ không kiếm đâu ra người thứ hai đưa ra quyết định giống bà.

Trong bài thơ bà viết nhân kỷ niệm ngày xuất giá, mọi người đều khóc cho bà vì đám cưới như đám tang. Bà viết: Đám cưới hay là một đám tang? Cả nhà, lớn, nhỏ, thảy đều than … Kẻ nói ngu, người nói dại Người cho là dở, kẻ cho gan Biết chăng chỉ có người trong cuộc Gây phải thuyền từ phải quyết sang. [21, Đám cưới] Dù trong phạm trù luận văn không phải để bình thơ, nhưng đọc qua đoạn thơ trên chúng tôi không thể không chú ý ba từ trong câu thơ cuối, tỏ rõ tấm lòng sâu sắc và chí nguyện cả cuộc đời bà, đó là “gây thuyền từ”. Đây chính là lý do và cho thấy sự thông suốt từ suy nghĩ đến hành động của một con người, cho dù ở Đời hay Đạo, bà luôn nhất quán, thể hiện sự đức độ, từ bi bác ái vốn sẵn trong tâm.

Bà không ngần ngại, bất quản thân phận, giàu sang, quyền thế, sẵn sàng cưu mang sáu trẻ mồ côi mẹ, gây “thuyền từ” nên nhất quyết thực hiện. Bà chấp thuận làm vợ sau của ông Cao Xuân Xang đương bệnh được dự đoán không sống lâu. Quả thật, hơn một năm sau bà sinh đứa con trai – Cao Xuân Chuân – chưa tròn tháng thì ông Cao Xuân Xang mất. Bà lo chu toàn cho đám tang và việc thờ cúng ông.

Thấy thế, các bạn cùng trang lứa gồm cả người Việt lẫn người Pháp tiếc thương ái ngại cho bà. Bà nói: “Việc mà phụ nữ châu Âu cho là nan giải, là khó, thì phụ nữ Á đông của chúng tôi đều nghĩ đến đạo lý, đến tình nghĩa cho nên cũng sẽ vững vàng trong chịu đựng vì vậy việc nuôi dạy chúng nó [các con riêng của chồng bà 20 và đứa con chung còn nhỏ của hai ông bà] từ nay mồ côi cả cha lẫn mẹ là đạo nghĩa”.35] Các quý bà, mệnh phụ phu nhân ái ngại rằng bà còn quá trẻ, mới có 25 tuổi, lại xinh đẹp, một quãng đời quá dài còn phía trước nhưng phải góa chồng, phải nuôi cả bảy đứa con. Việc hy sinh cả cuộc đời còn lại như thế, họ còn không nghĩ đến, huống gì làm, nhưng bà lại nghĩ đó là việc đạo nghĩa, là chuyện phải làm. Cuộc đời không có gì là “gánh nặng” bởi sự độ lượng, từ bi khiến bà trước đó sẵn lòng cưu mang chúng, thì giờ đây cũng thế.

Bà tiếp nhận một cách nhẹ nhàng, không có gì phải đắn đo khổ sở. Như nữ sĩ Cao Ngọc Anh, chị gái của ông Cao Xuân Xang, một lần ghé thăm bà đã thốt lên lời cảm thán: “… Lửa tình dẫu tắt lòng chưa nguội Bể ái tuy vơi lệ vẫn đầy Một khối Chuân thành đà phỉ nguyện Nợ đời đã trả chớ nên vay”. Lúc trước để làm vừa lòng song thân, bà đã phải “gây thuyền từ”, đến giờ đây “đà phỉ nguyện”, nợ đời xem như đã trả cũng không vay thêm và “biến cố cuộc đời bà” chính thức khép lại. Thay cho lời kết phần tiểu mục “Giai đoạn tại gia của Ni trưởng Diệu Không” – giai đoạn lúc sinh đến khoảng 25 tuổi, không có gì xác đáng hơn bằng câu đúc kết mà bà đã ghi lại trong cuốn hồi ký: “Thế là cuộc đời đã trôi qua hai mươi năm trời, tôi bước vào Đạo Phật với một tấm lòng không thay đổi, không e ngại” [20, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ