Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số: 9.22 90 09) của nghiên cứu sinh Đàm Tuấn Anh, với đề tài "Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay", được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương và PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thành phố Hà Nội giữ vị thế đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế. Về mặt tôn giáo, tuy số lượng tín đồ chiếm tỷ lệ không cao trong tổng dân số, Hà Nội lại là nơi đặt trụ sở trung ương của hầu hết các tổ chức tôn giáo lớn tại Việt Nam (Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đại Chủng viện Thánh Giuse, Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc, Ban Cai quản Họ đạo Cao Đài Thủ đô, Thánh đường Hồi giáo Al-Noor...). Sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008, địa bàn Hà Nội trở nên đa dạng về cơ cấu dân cư, dân tộc và loại hình tín ngưỡng, tôn giáo.

Bên cạnh mặt tích cực từ sự đồng hành của tín đồ trong đời sống xã hội, tình hình tôn giáo tại Thủ đô nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp: các tranh chấp đất đai, khiếu kiện đông người dẫn đến điểm nóng (tiêu biểu như các vụ việc tại số 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà, Núi Chẽ - Đồng Chiêm trong các năm 2007–2008); các vụ việc tiêu cực nảy sinh tại cơ sở tôn giáo (như vụ việc nhóm trẻ tại chùa Bồ Đề); sự gia tăng của các điểm nhóm Tin lành chưa được công nhận; sự lan truyền của hàng chục hiện tượng tôn giáo mới (đạo lạ); và các sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài cư trú trên địa bàn. Trong khi đó, công tác tôn giáo (CTTG) ở các cấp chính quyền cơ sở vẫn còn bộc lộ bất cập, thiếu đồng bộ và lúng túng trong quản lý nhà nước. Tác giả chỉ ra rằng trước đây chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, tổng thể diện mạo các tôn giáo gắn liền với đánh giá thực trạng công tác tôn giáo trên toàn địa bàn Hà Nội mở rộng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ thực trạng tình hình tôn giáo và CTTG ở Hà Nội trên cơ sở lý luận tôn giáo học; dự báo xu hướng vận động của tôn giáo và CTTG; từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả CTTG trên địa bàn Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ tình hình, đặc điểm của các tôn giáo và thực trạng CTTG tại Hà Nội hiện nay.
    2. Nêu lên một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động tôn giáo và CTTG trên địa bàn Thành phố.
    3. Dự báo tình hình, xu hướng tôn giáo và CTTG, từ đó đề xuất các khuyến nghị, giải pháp thực tế.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác định 04 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hà Nội có những tôn giáo nào đang tồn tại và các tôn giáo đó có tác động gì đến CTTG ở Hà Nội?
  2. CTTG ở Hà Nội đã đạt được những thành tựu và còn những hạn chế gì trong thời gian qua?
  3. Những vấn đề đặt ra đối với CTTG ở Hà Nội cần phải khắc phục, giải quyết trong thời gian tới là gì?
  4. Cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những vấn đề hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả CTTG của Hà Nội trong thời gian tới?

Tác giả đưa ra 03 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Giả thuyết 1: Diện mạo tôn giáo tại Hà Nội mang tính đa dạng, nhiều tầng nấc, tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) đến đời sống xã hội và công tác quản lý.
  • Giả thuyết 2: CTTG tại Hà Nội có sự tham gia của cả hệ thống chính trị nhưng bộ máy, đội ngũ cán bộ và quá trình thực thi chính sách ở cấp cơ sở còn những điểm nghẽn, bất cập cần điều chỉnh.
  • Giả thuyết 3: Việc tổng kết thực tiễn sẽ cung cấp căn cứ đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện CTTG và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Diện mạo các tôn giáo ở địa bàn Hà Nội và thực trạng CTTG của Hà Nội hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn Thành phố Hà Nội sau khi hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 (gồm Hà Nội cũ, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình), diện tích 334.470,02 ha với 30 quận, huyện, thị xã và 577 xã, phường, thị trấn.
  • Phạm vi thời gian: Từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 về Tăng cường CTTG trong tình hình mới cho đến khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước theo hai nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về diện mạo và hoạt động của các tôn giáo tại Hà Nội

  • Về Phật giáo: Luận văn thạc sĩ của Lê Tâm Đắc (2001) về Phật giáo Hà Nội trước và sau năm 1986; Luận án tiến sĩ của Ngô Thị Lan Anh (2011) về phạm trù "Tâm" trong Phật giáo; Luận án của Nguyễn Thị Điệp (Thích Từ Ân, 2015) về tư tưởng Nghiệp; Luận án của Nguyễn Thị Thành (Thích Đàm Thanh, 2016) về mối quan hệ giữa Phật giáo và phụ nữ tại các tỉnh phía Bắc.
  • Về Kitô giáo (Công giáo và Tin lành): Tác phẩm Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn (2003) phân tích số liệu điều tra xã hội học năm 1995 và 1998; Đề tài khoa học của Nguyễn Quốc Triệu và Nguyễn Hồng Dương (2003) về thực trạng đạo Tin lành tại Hà Nội; Công trình Công giáo Việt Nam thời kỳ Triều Nguyễn (1802-1883) của Nguyễn Quang Hưng (2007); Tác phẩm Kitô giáo ở Hà Nội của Nguyễn Hồng Dương (2008) phân tích quá trình hình thành và phát triển của Công giáo và Tin lành trước năm 2008.
  • Nghiên cứu đa tôn giáo và hiện tượng tôn giáo mới: Tác phẩm Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội của Đỗ Quang Hưng (2010) khảo cứu 7 tôn giáo và cấu trúc "không gian thiêng"; Công trình Đạo lạ ở Hà Nội hiện nay và những vấn đề đặt ra của Ngô Hữu Thảo và Đào Văn Bình (2014) dựa trên điều tra thực tế năm 2012 (chỉ rõ Hà Nội là cái nôi của 12/19 đạo lạ); Công trình Bách khoa thư Hà Nội - phần Hà Nội mở rộng (Tập 10, 2017) của Thành ủy - HĐND - UBND TP. Hà Nội.

Nhóm nghiên cứu về chính sách và công tác tôn giáo

  • Nghiên cứu quản lý nhà nước và kinh nghiệm xử lý vụ việc: Luận văn của Văn Đức Thu (2001) phân tích 59 vụ việc phức tạp của Công giáo tại Hà Nội (1993-2000); Đề tài của Ngô Văn Minh (2009) về quản lý nhà nước (QLNN) ở Tây Nguyên; Luận văn của Dương Ngọc Kiên (2014) và Phạm Thị Phương Mai (2014) về QLNN đối với hoạt động tôn giáo tại Hà Nội giai đoạn 2004-2014; Luận án tiến sĩ của Bùi Hữu Dược (2014) về QLNN từ 1975 đến 2013; Luận án của Nguyễn Thị Vân Hà (2014) về pháp luật tôn giáo; Luận án của Lê Thị Minh Thảo (2015) khảo sát CTTG tại tỉnh Ninh Bình.
  • Nghiên cứu đường lối, lý luận chính sách tôn giáo: Các tác phẩm của Đỗ Quang Hưng (Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, 2005; Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền, 2014); Ngô Hữu Thảo (Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn Việt Nam, 2012); Nguyễn Hồng Dương (Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo..., 2012; Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, 2014; Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, 2015); Hoàng Minh Đô và Đỗ Lan Hiền (2015); Nguyễn Thanh Xuân (Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, 2015).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu nghiên cứu từng tôn giáo riêng lẻ, tiếp cận dưới góc độ lịch sử, triết học hoặc quản lý hành chính đơn thuần, hoặc khảo sát trước thời điểm Hà Nội mở rộng địa giới năm 2008. Chưa có công trình nào khảo sát đồng bộ diện mạo tất cả các tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Baha'i, Mặc Môn, đạo lạ) kết hợp với đánh giá toàn diện hoạt động của hệ thống chính trị trong CTTG trên địa bàn Hà Nội mở rộng đến mốc thời gian thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết tiếp cận

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của 03 lý thuyết xã hội học tôn giáo và chính trị học:

  • Lý thuyết thực thể tôn giáo: Xem tôn giáo là thực thể xã hội gồm 3 yếu tố cấu thành: niềm tin vào cái thiêng, việc thực hành gắn với niềm tin, và cộng đồng người có cùng niềm tin. Lý thuyết này được vận dụng trong Chương 2 để nghiên cứu lịch sử hình thành, cộng đồng tín đồ và các hoạt động hành đạo, truyền đạo, quản đạo của các tổ chức tôn giáo tại Hà Nội.
  • Lý thuyết cấu trúc - chức năng: (Phát triển từ Émile Durkheim, Max Weber, Bronisław Malinowski) Xem xét tôn giáo và bộ máy CTTG như các hệ thống gồm nhiều bộ phận tương tác lẫn nhau. Áp dụng trong Chương 2 để phân tích chức năng xã hội, sự cố kết cộng đồng và hoạt động nhập thế; áp dụng trong Chương 3 để đánh giá cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và sự phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị Hà Nội làm CTTG.
  • Lý thuyết về xung đột: (Kế thừa nền tảng Karl Marx, hoàn thiện bởi Ralf Dahrendorf, Lewis Coser, Anatol Rapoport) Tiếp cận mâu thuẫn xã hội như thuộc tính khách quan. Luận án vận dụng để luận giải các mâu thuẫn, độ "vênh" giữa giáo lý, giáo luật, hành vi tôn giáo với pháp luật của Nhà nước và quy hoạch đô thị (tranh chấp đất đai, truyền đạo trái phép), từ đó tìm cơ chế giải tỏa xung đột và tạo sự đồng thuận xã hội (Chương 3 và Chương 4).

Các khái niệm công cụ

Văn bản chuẩn hóa và sử dụng 08 khái niệm chính:

  1. Hoạt động tôn giáo: Hoạt động truyền bá, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo.
  2. Tổ chức tôn giáo: Tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành được cơ cấu chặt chẽ và được Nhà nước công nhận.
  3. Pháp nhân tôn giáo: Sự chấp thuận hoặc công nhận hợp pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức tôn giáo.
  4. Mê tín dị đoan: Niềm tin viển vông vào lực lượng siêu nhiên đến mức mê muội, dẫn tới hành vi cực đoan, phản văn hóa.
  5. Hệ thống chính trị: Hệ thống các tổ chức, đoàn thể do Đảng lãnh đạo nhằm thực hiện và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
  6. Công tác tôn giáo (CTTG): Hoạt động của cả hệ thống chính trị nhằm thể chế hóa và thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
  7. Quản lý nhà nước về tôn giáo: Hoạt động của cơ quan công quyền thực thi các nội dung quản lý theo Điều 60 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016.
  8. Hiện tượng tôn giáo mới: Hiện tượng có tính chất tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ toàn cầu hóa, thường do một cá nhân tự xưng đứng đầu, giáo lý chắp vá, tổ chức lỏng lẻo, chưa đủ điều kiện công nhận là tôn giáo (còn gọi là đạo lạ, tà đạo).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Phân tích hệ thống, mô hình hóa lý thuyết, thống kê mô tả, khảo sát điền dã thực địa, nghiên cứu tài liệu lưu trữ - lịch sử và phỏng vấn sâu một số cán bộ lãnh đạo quản lý tôn giáo và chức sắc tôn giáo.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo Thành phố Hà Nội, Ban Dân tộc Thành phố Hà Nội; số liệu thống kê dân số Cục Thống kê Hà Nội (2016); văn kiện, nghị quyết của Thành ủy, HĐND, UBND TP. Hà Nội; hồ sơ lưu trữ về các điểm nhóm, giáo xứ, tự viện và tài liệu điều tra xã hội học từ các đề tài liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 trình bày lịch sử nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, các khái niệm công cụ và phác thảo toàn diện đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên - hành chính: Sau sáp nhập ngày 01/8/2008, Hà Nội có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha (gấp hơn 3 lần trước đây), gồm 30 quận/huyện/thị xã và 577 xã/phường/thị trấn; địa hình đồng bằng chiếm 3/4 diện tích, độ cao trung bình 5–20m, có hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bao bọc.
  • Dân cư và thành phần dân tộc: Dân số tính đến ngày 01/4/2016 đạt 7.587.841 người (nam: 3.751.600, nữ: 3.836.241; thành thị: 3.742.400, nông thôn: 3.845.441). Mật độ dân số trung bình 12 quận nội thành là 11.220 người/km². Thành phố có 50 thành phần dân tộc thiểu số sinh sống với trên 92.000 người (5 dân tộc thiểu số chính: Mường, Tày, Dao, Nùng...), tập trung tại 153 thôn thuộc 14 xã của 5 huyện miền núi/bán sơn địa (Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức).
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Giai đoạn 2010–2016, GDP tăng bình quân 9–12%/năm, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ 3.200 USD; GRDP tăng 8,2% (dịch vụ đóng góp 4,67%, công nghiệp - xây dựng đóng góp 2,75%, nông lâm thủy sản đóng góp 0,07%). Thành phố tập trung khoảng 70 trường đại học, cao đẳng, học viện lớn. Áp lực đô thị hóa và di biến động dân cư tạo nên môi trường tâm lý phức tạp, thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm chỗ dựa tâm linh của người dân.

Chương 2: Thực trạng và đặc điểm tôn giáo ở Hà Nội

Chương này khảo cứu quá trình lịch sử, cơ cấu tổ chức, giáo lý, giáo luật và quy mô hoạt động thực tế của từng cộng đồng tôn giáo tại Hà Nội:

1. Phật giáo

  • Tổ chức và cơ sở vật chất: Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) TP. Hà Nội quản lý 30 Ban Trị sự cấp quận/huyện/thị xã. Cơ quan lãnh đạo gồm 01 Trưởng ban, 05 Phó Trưởng ban và 13 Tiểu ban chuyên môn; có 2 văn phòng (chùa Bà Đá - Hoàn Kiếm và chùa Mỗ Lao - Hà Đông); 01 Trường Sơ cấp Phật học (chùa Mỗ Lao) và 01 Trường Trung cấp Phật học (chùa Đại Từ Ân - Đan Phượng).
  • Chức sắc và tín đồ: Toàn thành phố có 2.060 Tăng Ni chính thức (377 Tỷ khiêu, 1.331 Tỷ khiêu Ni, 76 Sa di, 92 Sa di Ni, 59 Thức xoa ma na, 125 Hình đồng/Hình đồng ni) và khoảng 600.000 tín đồ.
  • Cơ sở thờ tự: Tổng cộng có 2.059 ngôi chùa (1.696 chùa thuộc GHPGVN TP. Hà Nội quản lý; 209 chùa là di tích cấp quốc gia, 299 chùa là di tích cấp thành phố). Giai đoạn 1990–2003 có 94 chùa xây mới; giai đoạn 2004 đến thời điểm nghiên cứu có thêm 48 chùa xây mới.
  • Đạo tràng và khóa tu: Toàn thành phố có 113 đạo tràng với 12.955 Phật tử tham gia (50/113 đạo tràng đã đăng ký hoạt động; quận Long Biên đông nhất với 1.420 tín đồ, quận Hà Đông ít nhất với 1 đạo tràng/11 tín đồ). Có 30 giảng đường tổ chức tu tập định kỳ. Hoạt động xã hội ghi nhận mô hình cai nghiện ma túy tại chùa Pháp Vân, các Câu lạc bộ Hương Sen, Bình Minh, Hướng Dương.

2. Công giáo

  • Tổ chức và quy mô: Hà Nội có 90 giáo xứ thuộc 3 giáo phận (Tổng Giáo phận Hà Nội: 68 giáo xứ; Giáo phận Hưng Hóa: 15 giáo xứ; Giáo phận Bắc Ninh: 7 giáo xứ), hơn 400 nhà thờ/nhà nguyện với khoảng 192.000 giáo dân.
  • Hàng giáo phẩm và dòng tu: Có 01 Tổng Giám mục, 01 Giám mục, 01 Giám mục phụ tá, 98 linh mục, gần 200 nữ tu. 01 dòng tu nam (Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà) và 03 dòng tu nữ (Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Chị em Thánh Phaolô thành Chartres, Dòng Nữ tử Bác Ái Vinh Sơn) với 17 tu viện (7 cơ sở thành lập sau năm 2000).
  • Ủy ban Đoàn kết Công giáo (UBĐKCG): Thành lập năm 1985, hiện có 29 Ban Đoàn kết Công giáo cấp huyện (trừ quận Cầu Giấy), do Linh mục Dương Phú Oanh làm Chủ tịch.
  • Hoạt động xã hội, giáo dục, y tế: Phòng khám Luca tại Tòa Tổng Giám mục; Caritas Hà Nội phối hợp khám mắt miễn phí cho 150 bệnh nhân nghèo/năm; Trung tâm khuyết tật Hoàng Nguyên (Phú Xuyên) chăm sóc 40 trẻ; 12 nhóm/lớp mầm non tư thục do các nữ tu điều hành (6/12 cơ sở được cấp phép chính thức).

3. Đạo Tin lành

  • Tổ chức và điểm nhóm: Có 167 điểm nhóm thuộc 34 tổ chức, hệ phái (trong đó 6 tổ chức, hệ phái đã được công nhận pháp nhân với 50 điểm nhóm trực thuộc: Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc có 12 điểm nhóm; Hội thánh Phúc Âm Ngũ tuần có 16 điểm nhóm; Giáo hội Báptit Việt Nam có 10 điểm nhóm; Hội thánh Liên hữu Cơ đốc có 8 điểm nhóm; Tổng hội Báptit có 3 điểm nhóm; Hội thánh Cơ đốc Phục lâm có 1 điểm nhóm).
  • Nhân sự và cơ sở: Khoảng 60 chức sắc (19 mục sư, 9 mục sư nhiệm chức, 14 truyền đạo được công nhận; 18 chức sắc tự phong); khoảng 100 chức việc; 8.400 tín đồ (người Việt: 6.000; người Hàn Quốc: 1.400 thuộc 7 điểm nhóm/4 điểm đã được chấp thuận; người nước ngoài khác: 1.000 người thuộc 40 quốc tịch). Có 01 cơ sở đào tạo (Trường Thánh kinh Thần học Hà Nội) và 3 nhà thờ (Ngõ Trạm, Sở Thượng, Thọ An).
  • Hoạt động y tế - xã hội: Chương trình mục vụ cai nghiện ma túy triển khai từ năm 1992; chương trình khám bệnh nhân đạo "Lan tỏa yêu thương" (tổ chức định kỳ tại số 2 Ngõ Trạm, phối hợp với bác sĩ Hàn Quốc khám cho 150 lượt người/đợt).

4. Đạo Cao Đài, Baha'i và các hiện tượng tôn giáo mới

  • Đạo Cao Đài: Có 3 họ đạo với 4 thánh thất:
    • Họ đạo Cao Đài Thủ đô (Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo): Thánh thất tại số 48 Hòa Mã (Hai Bà Trưng), 12 chức sắc, 4 chức việc, 174 tín đồ.
    • Họ đạo Cao Đài Đặng Giang (Hội thánh Cao Đài Tây Ninh): Thánh thất tại xã Hòa Phú (Ứng Hòa), 13 chức sắc, 13 chức việc, 254 tín đồ.
    • Họ đạo Cao Đài Phúc Đức (Hội thánh Cao Đài Tây Ninh): 2 thánh thất tại xã Sài Sơn (Quốc Oai) và phường Tây Tựu (Bắc Từ Liêm), 5 chức sắc, 18 chức việc, 521 tín đồ.
  • Đạo Baha'i và Giáo hội Mặc Môn: Baha'i được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động năm 2007, công nhận tổ chức ngày 14/7/2008. Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô (Mặc Môn) hoạt động theo điểm nhóm được chấp thuận.

Bảng tổng hợp quy mô các tôn giáo chính trên địa bàn Hà Nội:

Tôn giáo Số lượng cơ sở thờ tự / Điểm nhóm Chức sắc, Tu sĩ Tín đồ Cơ sở đào tạo chuyên trách
Phật giáo 2.059 chùa (1.696 chùa trực thuộc Giáo hội) 2.060 Tăng Ni ~600.000 người 01 Trung cấp, 01 Sơ cấp
Công giáo 90 giáo xứ, >400 nhà thờ, 17 tu viện 101 Giám mục/Linh mục; ~200 nữ tu ~192.000 giáo dân Đại Chủng viện Thánh Giuse (2 cơ sở)
Tin lành 167 điểm nhóm (50 điểm có pháp nhân); 3 nhà thờ 60 chức sắc (42 được công nhận); ~100 chức việc ~8.400 người (2.400 người nước ngoài) Trường Thánh kinh Thần học Hà Nội
Cao Đài 4 thánh thất (thuộc 3 Họ đạo) 30 chức sắc, 35 chức việc 949 tín đồ Không có tại Hà Nội

Chương 3: Công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay

Chương 3 tập trung phân tích hoạt động của bộ máy chính trị và những vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý:

  • Bộ máy và nhân sự làm CTTG: Hệ thống cơ quan chuyên trách gồm Ban Tôn giáo Thành phố (trực thuộc Sở Nội vụ), Phòng Nội vụ tại 30 quận/huyện/thị xã và cán bộ chuyên trách/kiêm nhiệm cấp xã. Luận án khảo sát các bảng dữ liệu về cơ cấu phòng ban, trình độ chuyên môn, ngạch công chức, trình độ lý luận chính trị và tỷ lệ đảng viên của đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) làm CTTG tại Hà Nội.
  • Các nội dung CTTG đã triển khai:
    • Ban hành và cụ thể hóa các văn bản pháp luật, hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016.
    • Quản lý nhà nước về hoạt động phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, đăng ký sinh hoạt điểm nhóm, cấp phép xây dựng/trùng tu cơ sở thờ tự.
    • Công tác vận động quần chúng tín đồ, phát huy vai trò của Ủy ban Đoàn kết Công giáo, Hội đồng Trị sự Phật giáo; xây dựng lực lượng cốt cán tôn giáo tham gia các cơ quan dân cử (HĐND các cấp có 470 chức sắc/chức việc Phật giáo, 160 chức sắc/chức việc Công giáo; MTTQ các cấp có 345 chức sắc/chức việc Phật giáo, 310 chức sắc/chức việc Công giáo).
    • Quản lý hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài và công tác đối ngoại tôn giáo.
  • Các vấn đề phức tạp và hạn chế nảy sinh:
    • Điểm nóng khiếu kiện, tranh chấp đất đai có nguồn gốc tôn giáo (khu đất 42 Nhà Chung, khu đất bệnh viện Xanh Pôn liên quan đến dòng Phaolô, tu viện Thái Hà, khu vực Núi Chẽ - Đồng Chiêm).
    • Tình trạng xây dựng, cơi nới công trình tôn giáo trái phép khi chưa có giấy phép xây dựng.
    • Vấn đề quản lý các lớp mầm non, nhóm trẻ tình thương và cơ sở bảo trợ xã hội tư nhân của tôn giáo (chấn chỉnh sau vụ việc chùa Bồ Đề).
    • Sự truyền bá phức tạp của các hiện tượng tôn giáo mới (Tia chớp phương Đông, Pháp Luân Công, Đức Chúa Trời Mẹ, Thanh Hải Vô Thượng Sư...) và các điểm nhóm Tin lành tư gia chưa đăng ký.

Chương 4: Dự báo tình hình tôn giáo và một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao công tác tôn giáo ở Hà Nội thời gian tới

  • Dự báo xu hướng:
    • Hoạt động tôn giáo gia tăng tính xã hội hóa, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực giáo dục mầm non, y tế, từ thiện nhân đạo.
    • Gia tăng số lượng người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tại các khu đô thị mới.
    • Đạo lạ và hiện tượng tôn giáo mới tiếp tục biến tướng, lợi dụng mạng Internet và không gian đô thị để mở rộng phạm vi ảnh hưởng.
    • Các vụ việc tranh chấp đất đai cơ sở tôn giáo tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thành điểm nóng nếu không được giải quyết dứt điểm về mặt pháp lý quyền sử dụng đất.
  • Hệ thống khuyến nghị và giải pháp:
    1. Nâng cao nhận thức: Tăng cường tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 24-NQ/TW, Nghị quyết 25-NQ/TW) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 cho toàn bộ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị Thành phố.
    2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ: Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ tôn giáo học, kiến thức pháp luật và lý luận chính trị cho CBCC làm CTTG từ cấp thành phố đến xã, phường; ổn định đội ngũ cán bộ chuyên trách tại các địa bàn trọng điểm.
    3. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước: Rà soát, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở thờ tự tôn giáo; công khai quy hoạch xây dựng; xử lý kiên quyết, kịp thời các vi phạm xây dựng trái phép ngay từ khi mới phát sinh; quản lý chặt chẽ các nhóm trẻ, cơ sở từ thiện tư nhân của tôn giáo.
    4. Đổi mới công tác vận động quần chúng: Tăng cường đối thoại trực tiếp giữa chính quyền với các chức sắc, người đứng đầu tổ chức tôn giáo; phát huy vai trò người có uy tín, nhân sĩ, trí thức tôn giáo tiêu biểu; hỗ trợ các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội chính đáng của các tôn giáo.
    5. Chủ động phòng ngừa điểm nóng: Xây dựng quy trình xử lý khủng hoảng truyền thông và điểm nóng tôn giáo; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình tôn giáo học đầu tiên mô tả và phân tích toàn diện, có hệ thống diện mạo các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội mở rộng sau năm 2008.
  • Vận dụng tích hợp 03 khung lý thuyết (Lý thuyết thực thể tôn giáo, Lý thuyết cấu trúc - chức năng, Lý thuyết xung đột) để giải thích cơ cấu tổ chức, vai trò xã hội và bản chất các điểm nóng, mâu thuẫn tôn giáo - quản lý tại một đô thị đặc thù.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Khảo sát, tổng hợp và cung cấp hệ thống số liệu cụ thể, chi tiết về số lượng cơ sở thờ tự, chức sắc, chức việc, tín đồ của từng tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Baha'i) và các nhóm Tin lành người nước ngoài tại Hà Nội tính đến cuối năm 2017.
  • Phân tích rõ cơ cấu tổ chức, thực trạng năng lực của đội ngũ CBCC làm CTTG thuộc hệ thống chính trị Hà Nội.
  • Đề xuất các nhóm khuyến nghị chính sách sát hợp với bối cảnh thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, phục vụ việc giải quyết các tranh chấp đất đai, cấp phép điểm nhóm và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại Thủ đô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn khảo sát tư liệu trong phạm vi từ Nghị quyết 24-NQ/TW (1990) đến thời điểm Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 bắt đầu có hiệu lực (đầu năm 2018). Một số số liệu về các đạo tràng Phật giáo tại 3 đơn vị hành chính (quận Đống Đa, quận Thanh Xuân, huyện Ứng Hòa) và số liệu chi tiết của các hệ phái Tin lành chưa đăng ký chưa được thu thập đầy đủ do tính chất phân tán của địa bàn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đánh giá tác động thực tế sau 5–10 năm thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 tại Hà Nội; nghiên cứu chuyên sâu về sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người nước ngoài và sự chuyển đổi số trong phương thức truyền đạo của các hiện tượng tôn giáo mới tại các đô thị lớn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và bài học kinh nghiệm xử lý các vụ việc phức tạp (đất đai, điểm nhóm tư gia, nhóm trẻ từ thiện) cho Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận Thành ủy, Ban Tôn giáo TP. Hà Nội, Sở Nội vụ và chính quyền cấp quận/huyện.
  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo trong các chương trình đào tạo chuyên ngành Tôn giáo học, Xã hội học tôn giáo, Xây dựng Đảng và Quản lý Nhà nước tại Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các Trường Chính trị cấp tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng cơ sở thờ tự và chức sắc của Phật giáo tại Hà Nội là bao nhiêu?

Theo số liệu trong luận án, Hà Nội có tổng cộng 2.059 ngôi chùa (trong đó 1.696 chùa thuộc quyền quản lý của GHPGVN TP. Hà Nội; 209 chùa là di tích cấp quốc gia, 299 chùa là di tích cấp thành phố). Đội ngũ chức sắc gồm 2.060 vị Tăng Ni chính thức (377 Tỷ khiêu, 1.331 Tỷ khiêu Ni, 76 Sa di, 92 Sa di Ni, 59 Thức xoa ma na, 125 Hình đồng/Hình đồng ni) và khoảng 600.000 tín đồ.

2. Tình hình hoạt động của đạo Tin lành tại Hà Nội có đặc điểm gì nổi bật?

Đạo Tin lành tại Hà Nội có 167 điểm nhóm thuộc 34 tổ chức/hệ phái (6 hệ phái có tư cách pháp nhân với 50 điểm nhóm). Có khoảng 8.400 tín đồ, trong đó tín đồ người nước ngoài chiếm tỷ lệ đáng kể với khoảng 2.400 người (1.400 người Hàn Quốc sinh hoạt tại 7 điểm nhóm và khoảng 1.000 người thuộc 40 quốc tịch sinh hoạt tại Hội thánh Tin lành quốc tế Hà Nội).

3. Đạo Cao Đài tại Hà Nội hiện có cơ cấu tổ chức và số lượng tín đồ như thế nào?

Đạo Cao Đài tại Hà Nội có 3 họ đạo với 4 thánh thất: Họ đạo Cao Đài Thủ đô (thuộc Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo, tại 48 Hòa Mã, 174 tín đồ); Họ đạo Cao Đài Đặng Giang (thuộc Hội thánh Tây Ninh, tại Ứng Hòa, 254 tín đồ); Họ đạo Cao Đài Phúc Đức (thuộc Hội thánh Tây Ninh, có 2 thánh thất tại Quốc Oai và Bắc Từ Liêm, 521 tín đồ). Tổng số tín đồ Cao Đài toàn thành phố là 949 người.

4. Những nguyên nhân chính dẫn đến các điểm nóng phức tạp về tôn giáo tại Hà Nội giai đoạn 2007–2008 là gì?

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các tranh chấp đất đai, nhà đất có nguồn gốc tôn giáo trước đây chưa được giải quyết dứt điểm về mặt pháp lý (như vụ việc tại 42 Nhà Chung, Thái Hà, Núi Chẽ - Đồng Chiêm); sự thiếu đồng bộ trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở; cùng với sự khác biệt giữa quan điểm giáo hội với quy định pháp luật hiện hành.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đàm Tuấn Anh là công trình nghiên cứu hệ thống về diện mạo các tôn giáo và thực trạng CTTG tại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn đổi mới và mở rộng địa giới hành chính. Bằng việc kết hợp lý thuyết thực thể tôn giáo, cấu trúc - chức năng và lý thuyết xung đột, luận án đã làm rõ bức tranh sinh hoạt tôn giáo đa dạng cùng các thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nước. Các dự báo và hệ thống khuyến nghị giải pháp do luận án đề xuất có giá trị thực tiễn đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý tôn giáo và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tại Hà Nội.