Luận án Tiến sĩ: Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ - Bạch Thanh Sang

Luận án phân tích vai trò và đóng góp to lớn của hội đoàn kết sư sãi trong phong trào yêu nước tại vùng Tây Nam Bộ. Nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, ý nghĩa

Chuyên ngành

Tôn giáo học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

206
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ

Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ là tổ chức chính trị xã hội của tăng sĩ Phật giáo Nam tông Khmer. Hội ra đời trong bối cảnh cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ. Năm 1963, phong trào đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm của đồng bào Khmer diễn ra sôi nổi. Hội đóng vai trò tập hợp, đoàn kết tăng sĩ tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc. Phật giáo Nam tông Khmer có vị trí đặc biệt trong đời sống cộng đồng người Khmer. Tôn giáo này chi phối toàn bộ sinh hoạt văn hóa, tinh thần của phum sóc. Sư sãi được kính trọng, có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và hành động của bà con. Việc thành lập Hội nhằm đưa sức mạnh tôn giáo phục vụ mục tiêu cách mạng. Hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là cầu nối giữa chủ trương chính sách của cách mạng với đời sống tín ngưỡng của đồng bào Khmer. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, Hội đã trưởng thành và phát triển không ngừng.

1.1. Bối cảnh lịch sử ra đời của Hội

Đầu thập niên 1960, chế độ Mỹ - Ngụy thực hiện chính sách đàn áp đồng bào Khmer. Chúng ra sức đồng hóa dân tộc, tàn phá phum sóc, thu hồi ruộng đất. Mâu thuẫn giữa đồng bào Khmer với chính quyền tay sai ngày càng gay gắt. Mặt trận Giải phóng Kampuchea Krom được thành lập năm 1960. Đấu tranh đòi quyền lợi dân tộc trở thành nguyện vọng chính đáng của người Khmer. Trong bối cảnh đó, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước ra đời. Hội tập hợp tăng sĩ Phật giáo Nam tông Khmer tham gia cách mạng. Đây là bước ngoặt quan trọng trong phong trào đấu tranh của đồng bào Khmer vùng Tây Nam Bộ.

1.2. Vai trò của Phật giáo Nam tông Khmer trong cộng đồng

Phật giáo Nam tông Khmer là tôn giáo chủ yếu của người Khmer vùng Tây Nam Bộ. Tôn giáo này chi phối toàn bộ đời sống tinh thần, văn hóa của cộng đồng. Chùa là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, giáo dục và văn hóa phum sóc. Tăng sĩ giữ vị trí quan trọng, được bà con kính trọng và tin tưởng. Sư sãi hướng dẫn đời sống tâm linh, duy trì phong tục tập quán truyền thống. Phật giáo Nam tông Khmer gắn bó mật thiết với bản sắc dân tộc Khmer. Mọi nghi lễ vòng đời từ sinh, cưới, mất đều có sự tham gia của sư sãi. Ảnh hưởng của tăng sĩ đến cộng đồng là rất lớn, sâu rộng và bền vững.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề Hội đoàn kết sư sãi yêu nước

Thực trạng hoạt động của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ có nhiều điểm đáng ghi nhận. Hội đã phát huy tốt vai trò tập hợp tăng sĩ tham gia các phong trào cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến, nhiều sư sãi tích cực hoạt động bí mật. Họ vận động bà con ủng hộ cách mạng, cung cấp nơi trú ẩn cho cán bộ. Sau ngày giải phóng, Hội tiếp tục đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng đất nước. Tuy nhiên, thực trạng cũng bộc lộ một số hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn. Số lượng tăng sĩ tham gia Hội chưa tương xứng với tiềm năng. Công tác tuyên truyền, vận động gặp nhiều khó khăn trong tình hình mới. Mâu thuẫn giữa một số chức sắc và Hội vẫn tồn tại ở mức độ nhất định. Phương thức hoạt động của Hội cần được đổi mới phù hợp với điều kiện hiện nay. Tình hình biên giới, vấn đề di cư tự do cũng tác động đến hoạt động của Hội. Cần đánh giá toàn diện ưu điểm và hạn chế để có giải pháp phù hợp.

2.1. Ưu điểm trong hoạt động của Hội

Hội đoàn kết sư sãi yêu nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tổ chức Hội được xây dựng từ tỉnh đến cơ sở, phủ rộng khắp vùng Tây Nam Bộ. Nhiều sư sãi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị. Hội tích cực tham gia công tác từ thiện, nhân đạo trong cộng đồng. Các phong trào xây dựng nông thôn mới được Hội hưởng ứng mạnh mẽ. Hội phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp. Hoạt động đối ngoại nhân dân được mở rộng, tăng cường đoàn kết quốc tế. Uy tín của Hội trong cộng đồng người Khmer được nâng lên rõ rệt.

2.2. Hạn chế và thách thức đặt ra

Bên cạnh ưu điểm, Hội đối mặt với nhiều thách thức trong giai đoạn hiện nay. Nguồn kinh phí hoạt động còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu. Đội ngũ cán bộ Hội thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ. Một số nơi tổ chức Hội hoạt động hình thức, thiếu nội dung thiết thực. Thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá. Tình trạng di cư tự do qua biên giới gây phức tạp tình hình an ninh. Một bộ phận tăng sĩ trẻ thiếu quan tâm đến hoạt động của Hội. Công tác phát triển hội viên mới gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh hiện đại hóa.

III. Giải pháp phát huy vai trò Hội đoàn kết sư sãi yêu nước

Để phát huy vai trò tích cực của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, nhiều giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Trước hết, cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị cho tăng sĩ phải được nâng cao chất lượng. Hội cần chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của sư sãi và bà con phum sóc. Xây dựng chương trình hành động thiết thực, gắn với lợi ích cộng đồng. Tăng cường bồi dưỡng cán bộ Hội có năng lực, nhiệt huyết và uy tín. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước trong thực hiện chính sách dân tộc tôn giáo. Đẩy mạnh công tác từ thiện, an sinh xã hội để củng cố lòng tin của nhân dân. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền, kết nối hội viên. Mỗi giải pháp cần được cụ thể hóa bằng kế hoạch hành động rõ ràng, có thời gian biểu và phân công trách nhiệm cụ thể.

3.1. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động

Đổi mới hoạt động Hội là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay. Nội dung hoạt động cần bám sát thực tiễn đời sống cộng đồng phum sóc. Phương thức tuyên truyền phải đa dạng, phù hợp với đặc thù tôn giáo. Sử dụng hình thức sinh hoạt câu lạc bộ, tọa đàm thay cho hội nghị khô khan. Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao gắn với truyền thống dân tộc. Ứng dụng mạng xã hội để kết nối tăng sĩ trẻ tham gia hoạt động Hội. Xây dựng mô hình điểm về Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vững mạnh. Đánh giá hiệu quả hoạt động bằng tiêu chí cụ thể, đo lường được.

3.2. Tăng cường bồi dưỡng cán bộ và phát triển hội viên

Đội ngũ cán bộ Hội là nhân tố quyết định chất lượng hoạt động. Cần xây dựng quy hoạch cán bộ Hội các cấp đảm bảo tính kế thừa. Mở lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức, vận động cho cán bộ Hội. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng sư sãi trẻ có uy tín trong cộng đồng. Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù của tăng sĩ Phật giáo. Tạo điều kiện cho cán bộ Hội đi tham quan, học tập kinh nghiệm tại các địa phương. Chế độ đãi ngộ cán bộ Hội cần được quan tâm thỏa đáng. Phát triển hội viên mới phải gắn với chất lượng hoạt động thực tế.

IV. Kết luận và ứng dụng luận án hội đoàn kết sư sãi yêu nước

Luận án về Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cho thấy Hội có vai trò không thể thay thế trong đời sống cộng đồng người Khmer. Hội là tổ chức chính trị xã hội quan trọng, góp phần ổn định chính trị vùng Tây Nam Bộ. Quá trình hình thành và phát triển Hội gắn liền với lịch sử cách mạng của dân tộc. Thực tiễn hoạt động Hội có nhiều thành tựu nhưng cũng tồn tại hạn chế cần khắc phục. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù với điều kiện thực tế. Nghiên cứu có giá trị khoa học, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chính sách. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cần có lộ trình phù hợp. Các cơ quan quản lý nhà nước có thể tham khảo để hoàn thiện cơ chế chính sách. Hội đoàn kết sư sãi yêu nước cần tiếp tục đổi mới để đáp ứng yêu cầu mới. Sự phát triển của Hội gắn liền với sự phát triển bền vững của vùng Tây Nam Bộ.

4.1. Giá trị khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án có giá trị khoa học ở việc hệ thống hóa lý luận về Hội đoàn kết sư sãi yêu nước. Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Hội một cách toàn diện. Phương pháp nghiên cứu kết hợp nhiều nguồn tài liệu, điều tra thực địa. Kết quả nghiên cứu bổ sung kho tàng tri thức về tôn giáo học và dân tộc học. Giá trị thực tiễn thể hiện ở khả năng ứng dụng vào công tác quản lý. Các kiến nghị đề xuất có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc. Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhà nghiên cứu và nhà quản lý.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về Hội đoàn kết sư sãi yêu nước

Nghiên cứu về Hội đoàn kết sư sãi yêu nước cần được tiếp tục mở rộng. Các hướng nghiên cứu mới nên tập trung vào tác động của toàn cầu hóa và đô thị hóa. Nghiên cứu so sánh mô hình Hội với các tổ chức tôn giáo tương tự trong khu vực. Đánh giá tác động của chuyển đổi số đến hoạt động của Hội trong thời kỳ mới. Khảo sát thế hệ tăng sĩ trẻ và xu hướng tham gia hoạt động chính trị xã hội. Nghiên cứu mối quan hệ giữa Hội với hệ thống chính trị cơ sở. Ứng dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá hiệu quả hoạt động Hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng tây nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÙNG TÂY NAM BỘ Đối với công trình nghiên cứu có liên quan đến dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ; nghiên cứu sinh tham khảm: Sách Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long [20]. Công trình dày 488 trang, gồm 7 chương; các tác giả đã trình bày được bức tranh tổng thể, với những nét cơ bản về các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long; cũng như về tôn giáo, tín ngưỡng của từng tộc người cụ thể. Trong chương II và III, các tác giả đề cập các vấn đề liên quan đến người Khmer ở Nam Bộ.

Đây là tài liệu góp phần rất lớn cho các nhà quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ; hiểu hơn về đồng bào dân tộc, hiểu hơn về các tôn giáo tránh xảy ra các xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo như một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Sách Miền Nam giữ vững thành đồng [38]; công trình dày 422 trang, tác giả Trần Văn Giàu đề cập đến sự ra đời của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam; một tổ chức xã hội yêu nước có sự tham gia đầy đủ của các thành phần xã hội, trong đó có tín đồ tôn giáo. Hoạt động của tổ chức này luôn sát cánh với MTDTGPMNVN, đấu tranh chống Mỹ cứu nước với mục đích rất rõ ràng. Kết quả hoạt động được Thông tấn xã Giải phóng (03/05/1968) đánh giá rất cao; bên cạnh đó, Tạp chí Học tập (05/1968) xem sự ra đời của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình là một biểu hiện của sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhận xét: “Việc thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình là một thắng lợi to lớn của chính sách đại đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước” [38, tr. Sách Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ [45]. Công trình dày 245 trang, tác giả Phan Văn Hoàng giành 11 trang (136 -147) để khái quát các 10 hoạt động của tổ chức yêu nước trong đạo Cao Đài qua hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gồm: Cao Đài Cứu Quốc, Cao Đài Liên Giao I và Cao Đài Liên Giao II. Trong Hội nghị quyết định thành lập một tổ chức để lãnh đạo chức sắc và tín đồ đạo Cao Đài các hệ phái góp phần vào công cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, cụ Cao Triều Phát phát biểu: “Các Phật tử đã có Hội Phật giáo cứu quốc, các giáo dân đã có Hội Công giáo kháng chiến.

Người Cao Đài chúng ta phải thành lập Hội Cao Đài cứu quốc, vì hiện nay cứu quốc là hành đạo, hành đạo là cứu quốc” [45, tr. Sau khi thành lập và chỉ trong một gian ngắn hoạt động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời khen: “Mười hai phái Cao Đài do cụ Cao Triều Phát lãnh đạo luôn luôn cùng đồng bào toàn quốc hăng hái kháng chiến, Tổ quốc và Chính phủ sẽ nhớ công những người con trung thành” [45, tr. Bên cạnh đó, trong đạo Cao Đài còn có tổ chức được thành lập từ năm 1991; qua bài viết Ban Qui ước các phái Cao Đài thành phố Cần Thơ - Một hình thức phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào đạo Cao Đài trong thời kỳ đổi mới [108]. Tác giả Nguyễn Thị Ánh Ngà đã khái quát được quá trình hình thành và phát triển; đồng thời, đánh giá kết quả hoạt động của Ban Qui ước các phái Cao Đài thành phố Cần Thơ góp phần rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các công trình này giúp nghiên cứu sinh nhìn nhận sự tồn tại của các tổ chức xã hội có yếu tố tôn giáo là khách quan và có tính lịch sử.

Bài viết Đặc điểm của phong trào yêu nước phi vô sản ở Nam kỳ đầu thế kỷ XX và vị trí của nó trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam [18], tác giả Võ Văn Sen và Trần Nam Tiến đã phân tích các sự kiện liên quan đến phong trào chống Pháp của các Hội kín ở Nam kỳ và đưa ra nhận định: Về mặt tư tưởng, phong trào Hội kín Nam kỳ thể hiện rõ tư tưởng yêu nước qua khẩu hiệu “Phản Pháp phục Nam” và lời thề một lòng cứu nước, cứu dân của những người gia nhập hội. Yêu nước là tư tưởng chủ đạo, nó quy định mục đích và đối tượng đấu tranh của Hội kín. Tuy nhiên, ngoài tư tưởng yêu nước thì tư tưởng phong kiến cũng rất đậm nét và mang đậm tư tưởng tôn 11 giáo pha lẫn ma thuật với các lễ nghi thần bí, bùa chú được sử dụng phổ biến. Pháp thuật và bùa chú đóng vai trò như một thứ “vũ khí tinh thần”; đối với những người lãnh đạo phong trào thì tư tưởng tôn giáo, ma thuật được dùng như một phương tiện để họ thực hiện mục đích cứu nước.

Riêng đối với các công trình liên quan đến dân tộc Khmer: Trước năm 1975, vấn đề dân tộc Khmer ở Nam bộ - Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu người Pháp như: Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, S. Bernard Thierry…đặc biệt quan tâm nhưng họ chủ yếu nghiên cứu và đề cấp đến từng khía cạnh riêng biệt về lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc chùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dân gian, thơ ca dân gian. Ngoài ra, còn có các công trình“Người Việt gốc Miên” (1969) của Lê Hương và bản ghi chép “Chân lạp phong thổ ký” của Châu Đạt Quan do Lê Hương dịch (1973) đã giới thiệu cơ bản về nguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của người Khmer Nam bộ - Việt Nam. Từ năm 1975 đến năm 1986, việc nghiên cứu liên quan đến người Khmer ở Nam bộ liên tục được chú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm; trong đó phải kế đến tác giả Phan An, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về cộng đồng người Khmer ở Nam bộ như: “Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt Nam và Camphuchia” (1980); “Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long - Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long” (1984); “Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)”(1984); “Nghiên cứu người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”(1985) …Qua các công trình nghiên cứu, tác giả đã chỉ rõ các mối quan hệ, những tương đồng và dị biệt giữa người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở Campuchia; đồng thời, chú trọng nghiên cứu về vấn đề dân tộc và tôn giáo của người Khmer ở Nam bộ trong quá trình cộng cư với các dân tộc người khác trong khu vực.

Trong giai đoạn này, tác giả Nguyễn Khắc Cảnh cũng có công trình nghiên cứu về Loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu 12 Long [25]; tác giả giới thiệu các loại hình công xã của người Khmer dưới nhiều góc độ khác nhau và xem đó là một đơn vị cư trú truyền thống của người Khmer, qua đó nghiên cứu về cấu trúc và chức năng, về những biến động trong lịch sử. Theo đó, phum là một tập hợp người Khmer dựa trên mối quan hệ huyết thống là chính, còn sóc là một tập hợp người dựa trên cùng cư trú trên một địa vực nhất định. Sóc truyền thống của người Khmer ở Nam Bộ mang tính cộng đồng của một công xã nông thôn của cư dân canh tác lúa nước ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Việc nghiên cứu loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy rõ hơn những đặc điểm về tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer.

Sau năm 1986, những công trình nghiên cứu của người nước ngoài về dân tộc Khmer ở Nam bộ rất hạn chế nhưng công trình của các tác giả ở trong nước thì đa dạng và phong phú; trong đó, phải kể đến sách Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ Thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XIX; sau đó là Vấn đề dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long (Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long) [32]. Tác giả Mạc Đường đã khái quát quá trình hình thành các tộc người Việt, Khmer, Hoa và Chăm; đồng thời, làm rõ đặc điểm các cộng đồng tộc người này ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm làm cơ sở nghiên cứu những đặc trưng riêng của từng tộc người, của các cộng đồng dân cư trong vùng sinh thái nhân văn cụ thể. Ngoài ra, còn có nhiều công trình của các tác giả: Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Đinh Văn Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Lâm Văn Tòng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Đỗ Khắc Tùng, Thạch Voi, Huỳnh Ngọc Trảng, Sorya, Văn Công Chí, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc, Đặng Vũ Thị Thảo… Đặc biệt, trong thời gian gần đây, tác giả Nguyễn Thuận Quý có công trình nghiên cứu về Quan hệ tộc người của người Khmer ở hai bên biên giới Việt Nam - Campuchia (khu vực Tây Nam Bộ) [87], công trình dày 145 trang đã phân tích sâu mối quan hệ tộc người của người Khmer khu vực biên giới Tây Nam Bộ được biểu hiện trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa thông 13 qua những trục quan hệ: Với Quốc gia - Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; với các tộc người cận cư (tộc người đa số và các tộc người thiểu số khác); với người đồng tộc (nội tộc và xuyên biên giới). Đồng thời, tác giả phân tích ý thức và hành động của người Khmer đối với quốc gia - Tổ quốc Việt Nam như: Việc chấp hành tốt chính sách, chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước; có ý thức là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện nghĩa vụ của công dân…Việc phân tích các mối quan hệ dân tộc và tộc người khu vực biên giới Tây Nam Bộ; tác giả nhận định có xu hướng cố kết, đoàn kết sâu sắc nhưng mối quan hệ này ít nhiều còn chịu ảnh hưởng từ quốc gia láng giềng và một số nước lớn chi phối.

Quá trình cộng cư của các tộc người ở khu vực biên giới Tây Nam Bộ đã giúp các tộc người có sự giao thoa văn hóa vật chất và tinh thần, là sợi dây liên kết giúp các tộc người xích lại gần nhau, siết chặt tình đoàn kết giữa các tộc người cùng cư trú ở vùng biên cương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ