Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số: 9229009, mã số cũ: 62220309) với đề tài "Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Bạch Thanh Sang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Lê Văn Lợi, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2020.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước (Hội ĐKSSYN) khu Tây Nam Bộ được thành lập năm 1964, hoạt động với tư cách là tổ chức thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp, đoàn kết Tăng sĩ và Phật tử Khmer tham gia kháng chiến. Sau ngày giải phóng, Hội nghị lần thứ XXVI Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết số 247-NQ/TW ngày 29/9/1975 quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam và các Khu ủy, theo đó Khu ủy Tây Nam Bộ cùng các tổ chức trực thuộc chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên, do sự tồn tại khách quan, Hội ĐKSSYN tại một số địa phương vẫn duy trì hoạt động. Đến năm 1981, Hội đại diện cho Phật giáo Nam tông Khmer (PGNTK) tham gia sáng lập và gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN). Ngày 18/4/1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW về công tác ở vùng đồng bào Khơ-me, đề ra chủ trương lập Hội ĐKSSYN hoặc các hình thức tổ chức thích hợp. Đến nay, 8/13 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ có chùa PGNTK đã củng cố, kiện toàn tổ chức Hội.

Thực tiễn hoạt động nảy sinh nhiều vấn đề: thiếu văn bản hướng dẫn thống nhất về Điều lệ và Quy chế hoạt động; cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động giữa các địa phương có sự khác biệt; xuất hiện tình trạng chồng chéo, lấn sân trong công việc giữa Ban Trị sự Phật giáo (BTSPG) và Hội ĐKSSYN cùng cấp; một số địa phương có chùa Khmer như An Giang và các tỉnh miền Đông Nam Bộ chưa lập Hội, trong khi có ý kiến đề xuất thành lập hệ thống Hội cấp trên tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ là yêu cầu cấp thiết nhằm làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn cho sự tồn tại và phát huy vai trò của tổ chức này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành và phát triển, tính chất và thực trạng hoạt động của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ, luận án đề xuất các quan điểm, đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội ĐKSSYN trong đời sống xã hội vùng Tây Nam Bộ.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):

  • Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận, phương pháp và lý thuyết nghiên cứu để vận dụng phân tích, luận giải, đánh giá vai trò của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ.
  • Hai là, nghiên cứu sự hình thành và phát triển; tính chất, chức năng và nhiệm vụ của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ trong quá trình lịch sử.
  • Ba là, nghiên cứu thực trạng hoạt động của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ và những vấn đề đặt ra hiện nay.
  • Bốn là, đưa ra các quan điểm, đề xuất những giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu (gồm 3 câu hỏi):

  • Một là, Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ có vị trí, vai trò như thế nào và hiện nay, tổ chức này có cần thiết tồn tại hay không?
  • Hai là, nếu Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ tiếp tục tồn tại thì cần giải quyết những vấn đề tồn tại gì?
  • Ba là, cần những quan điểm và giải pháp gì để Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ tiếp tục phát huy vai trò tích cực trong đời sống xã hội?

Giả thuyết nghiên cứu (gồm 3 giả thuyết):

  • Một là, trải qua quá trình phát triển gắn bó và đồng hành cùng dân tộc, Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ đã có những đóng góp tích cực cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Phải chăng sự tồn tại của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ hiện nay là cần thiết?
  • Hai là, phải chăng cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ dần ổn định và đi vào nề nếp? Việc phát huy vai trò của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ trong đời sống xã hội còn hạn chế nhất định?
  • Ba là, để tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò tích cực của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ trong đời sống xã hội. Phải chăng các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và GHPGVN cần thống nhất quan điểm và tiến hành đồng bộ các giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức bộ máy, cơ chế, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng… phù hợp với điều kiện thực tiễn vùng Tây Nam Bộ đáp ứng đời sống xã hội của đồng bào Khmer hiện nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ.
  • Phạm vi không gian: Các tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ có Hội ĐKSSYN, cụ thể gồm Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Hậu Giang.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2019 (từ khi có Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo 3 nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu liên quan đến dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ. Tác giả tham khảo sách Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (488 trang); tác phẩm Miền Nam giữ vững thành đồng của Trần Văn Giàu (422 trang) đề cập đến Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam; sách Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ của Phan Văn Hoàng (245 trang) về tổ chức yêu nước trong đạo Cao Đài (Cao Đài Cứu Quốc, Cao Đài Liên Giao I và II); bài viết của Nguyễn Thị Ánh Ngà (1991) về Ban Qui ước các phái Cao Đài thành phố Cần Thơ; bài viết của Võ Văn Sen và Trần Nam Tiến về phong trào yêu nước phi vô sản và Hội kín ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Về dân tộc học Khmer, luận án dẫn chứng các nghiên cứu của học giả Pháp trước 1975 (Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, S. Bernard Thierry), tác phẩm Người Việt gốc Miên (1969) của Lê Hương, bản dịch Chân lạp phong thổ ký (1973); các công trình giai đoạn 1975-1986 của Phan An (1980, 1984, 1985), công trình về loại hình công xã phum - sóc của Nguyễn Khắc Cảnh; các công trình sau năm 1986 của Mạc Đường (Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ Thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XIX), các nghiên cứu của Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Đinh Văn Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Lâm Văn Tòng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Đỗ Khắc Tùng, Thạch Voi, Huỳnh Ngọc Trảng, Sorya, Văn Công Chí, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc, Đặng Vũ Thị Thảo; công trình Quan hệ tộc người của người Khmer ở hai bên biên giới Việt Nam - Campuchia (khu vực Tây Nam Bộ) của Nguyễn Thuận Quý (145 trang).

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Phật giáo Nam tông Khmer. Bao gồm sách Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại) của Nguyễn Mạnh Cường; luận văn của Danh Út về biến đổi đời sống văn hóa của tu sĩ PGNTK tại Kiên Giang sau năm 1986 (mô tả Wên, Ban Quản trị chùa, Hội Mêkon, Hội ĐKSSYN); luận văn của Kiên Ngọc Khánh về công tác vận động sư sãi tại Trà Vinh; các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 5/2003) của Nguyễn Xuân Nghĩa và Phan An về chức năng xã hội và vai trò của chùa Khmer.

Nhóm 3: Các công trình liên quan đến tổ chức Phật giáo và Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước. Gồm sách Phật giáo sử (464 trang) đề cập Hội Chúng cư sĩ và Hội Phật giáo Đại Bồ Đề; sách Về sự ra đời của các tổ chức Phật giáo ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1951-1954 của Dương Thanh Mừng; sách Maha Sơn Thông - cách mạng là sự nghiệp cả cuộc đời (88 trang) làm rõ vai trò của Maha Sơn Thông trong việc đề xuất thành lập Hội năm 1964 và cố Hòa thượng Thạch Som làm Hội trưởng; sách của Trần Hồng Liên về Phật giáo trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ; đề tài cấp bộ Vai trò của chùa Khmer đối với đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ (64 trang); đề tài cấp bộ Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer Nam bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1939-1975) (112 trang); tài liệu khảo sát theo Kế hoạch số 26-KH/BDVTW ngày 20/5/2013 của Ban Dân vận Trung ương và báo cáo của Ban Dân vận Tỉnh ủy/Thành ủy các địa phương (Cần Thơ, An Giang, Bạc Liêu, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cà Mau); kỷ yếu tọa đàm khoa học ngày 20/5/2014 tại Cần Thơ; Kỷ yếu đề tài nhánh thuộc Đề án Tổng thể của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Hoàng Minh Đô làm chủ nhiệm (389 trang, 17 bài viết); bài viết của Bạch Thanh Sang; hai bài viết của Nguyễn Hồng Dương (về thực trạng thực hiện chính sách và tổ chức gắn đạo với đời của Hội ĐKSSYN); luận văn của Thạch Thanh Tùng về Hội ĐKSSYN trong đời sống văn hóa người Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ hoặc mang tính báo cáo rời rạc, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về Hội ĐKSSYN - một loại hình tổ chức xã hội mang tính chất đặc thù "vừa có yếu tố dân tộc, vừa có yếu tố tôn giáo" tại vùng Tây Nam Bộ. Luận án đi sâu phân tích bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, giải thể, củng cố và phát triển; đánh giá toàn diện mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và thực trạng hoạt động qua các giai đoạn; giải quyết mối quan hệ giữa Hội ĐKSSYN và BTSPG cùng cấp; từ đó xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học nhằm phát huy vai trò của Hội trong tình hình mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương - giáo, cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về công tác dân tộc, tôn giáo và công tác đối với các tổ chức hội quần chúng.

Các lý thuyết khoa học được sử dụng trong luận án:

  • Lý thuyết cấu trúc - chức năng (dẫn theo công trình của Phạm Minh Anh): Nhìn nhận xã hội như một chỉnh thể hữu cơ gồm các tiểu hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ, mỗi bộ phận đảm nhận những chức năng nhất định để duy trì sự cân bằng động của hệ thống. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải tôn giáo là một tiểu hệ thống xã hội và Hội ĐKSSYN là một thiết chế có chức năng liên kết, gắn kết cộng đồng tín đồ Khmer, khẳng định sự tồn tại của Hội là khách quan.
  • Lý thuyết thế tục hóa: Thuật ngữ xuất hiện từ Hòa ước Westphalia (1648), chỉ quá trình đưa tôn giáo ra khỏi lĩnh vực công để khoanh vùng trong đời sống tinh thần cá nhân, bao gồm ba quá trình cốt lõi là chuyên môn hóa, duy lý hóa và nhập thế. Luận án sử dụng lý thuyết thế tục hóa để lý giải xu hướng suy giảm số lượng Tăng sĩ xuất gia và sự biến đổi niềm tin tôn giáo trong bối cảnh hiện đại hóa, qua đó chỉ rõ yêu cầu cần có chính sách hỗ trợ để bảo tồn bản sắc văn hóa thông qua vai trò của Hội ĐKSSYN.
  • Lý thuyết mâu thuẫn (thuyết xung đột) của C. Mác và Ph. Ăng-ghen (kết hợp các tiếp cận của Phạm Minh Anh, Đỗ Quang Hưng, Samuel Huntington): Xem mâu thuẫn và xung đột là động lực của sự biến đổi xã hội bắt nguồn từ sự khan hiếm và phân bổ nguồn lực. Khung lý thuyết này giúp phân tích các nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định từ truyền thống lịch sử, chênh lệch kinh tế - xã hội và tác động chính trị, nhằm nhận diện quy luật và quản lý xung đột xã hội - tôn giáo.

Cách tiếp cận nghiên cứu: Luận án kết hợp đa ngành gồm tiếp cận tôn giáo học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận chính trị học, tiếp cận lịch sử, tiếp cận dân tộc học và tiếp cận vùng địa lý - nhân văn Tây Nam Bộ.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lôgic và lịch sử (nghiên cứu tài liệu thứ cấp về lịch sử và thực trạng Hội).
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn, thống kê, so sánh, phân tích SWOT, điều tra xã hội học (nghiên cứu cơ cấu tổ chức, hoạt động và so sánh giữa các cấp Hội địa phương).
  • Phương pháp dự báo (dự báo các xu hướng tác động đến sự phát triển của Hội).
  • Phương pháp chuyên gia và tọa đàm khoa học.

Nguồn tư liệu/dữ liệu: Nghị quyết, chỉ thị của Đảng (Chỉ thị 68-CT/TW, Chỉ thị 117/CT-TW, Thông tri 136/TT-TW...); chính sách, pháp luật của Nhà nước; tài liệu lưu trữ lịch sử; báo cáo chuyên đề và kết quả khảo sát của Ban Dân vận Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Ban Dân vận các Tỉnh ủy/Thành ủy; kỷ yếu hội thảo khoa học và các bảng số liệu thống kê (Bảng 3.1 về số lượng Tăng sĩ từ 1975 đến 6/1998, Bảng 3.2 về kết quả khảo sát tiêu chí cộng đồng Khmer).

Chuẩn hóa thuật ngữ: Định nghĩa cụ thể các thuật ngữ gồm "Hội" (theo công trình Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước), "Dân tộc Khmer" (theo Chỉ thị 117/CT-TW), "Phật giáo Nam tông Khmer", "Tăng sĩ" (dùng thống nhất thay cho thuật ngữ "Sư sãi", "Presh Song", "Lốt Soong"), "Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước", "Vùng", và "Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ" (danh xưng chung cho các cấp Hội địa phương hiện nay, phân biệt với Hội ĐKSSYN khu Tây Nam Bộ giai đoạn 1964-1975).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 phân tích bức tranh tổng thể tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 3 nhóm công trình: nghiên cứu về dân tộc, tôn giáo Tây Nam Bộ; nghiên cứu chuyên sâu về PGNTK; nghiên cứu về các tổ chức Phật giáo và Hội ĐKSSYN. Tác giả xác định các khoảng trống tri thức mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn, đặc biệt là tính chất tổ chức "vừa có yếu tố dân tộc, vừa có yếu tố tôn giáo" của Hội ĐKSSYN. Trên cơ sở đó, chương này xác lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu, luận giải việc vận dụng 3 khung lý thuyết (cấu trúc - chức năng, thế tục hóa, mâu thuẫn/xung đột) và định nghĩa tường minh 7 thuật ngữ then chốt sử dụng trong toàn văn luận án.

Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và tính chất, chức năng, nhiệm vụ của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ

Chương 2 trình bày tổng quan về PGNTK và tiến trình lịch sử của Hội ĐKSSYN:

  • Lịch sử du nhập: PGNT du nhập vào Nam Bộ từ thế kỷ thứ II qua đường biển thuộc Vương quốc Phù Nam (di chỉ Văn hóa Óc Eo do Louis Malleret khai quật năm 1944). Chùa Som Bua Răng Sây (tỉnh Trà Vinh) được xây dựng từ năm 373; thế kỷ thứ VII xuất hiện các chùa Kos Keo Sế Rây (613), Hạnh Phúc Tăng (632), Knông Sróc (641), Somrong Ek và Compong (642); đến năm 1970 toàn Nam Bộ có 402 chùa.
  • Giáo lý, giới luật, lễ nghi: Tuân thủ Tam Tạng kinh (Pali/Khmer). Giới luật quy định Sa di giữ 105 điều học, Tỳ khưu giữ 227 điều học. Tăng sĩ không ăn chay, chỉ dùng bữa sáng và trước giờ Ngọ. Sinh hoạt lễ nghi theo định kỳ (ngày 8, 15, 23, 30 âm lịch) và các lễ hội truyền thống: Tết Chôl Chnăm Thmây (13-15/4 dương lịch), lễ Sene Đôn Ta (30/8 âm lịch), lễ Dâng y Kathina (tháng 9-10 âm lịch), lễ Ok Om Bok (15/10 âm lịch).
  • Chi phái và cơ cấu tổ chức: Gồm chi phái Mahanikaya (chiếm đa số), chi phái Dhammayutta (Thommayutt - du nhập từ Thái Lan qua Campuchia vào An Giang với 19 chùa) và Theravada Cư sĩ. Thời Pháp thuộc có Hội đồng kỷ luật sư sãi 2 cấp (tỉnh do Mêkon đứng đầu, huyện do Anuskon đứng đầu). Thời kỳ 1954-1975, chính quyền Sài Gòn lập Giáo hội Phật giáo Khemaranikay và Giáo hội Phật giáo Theravada nhằm chia rẽ khối đoàn kết.
  • Số liệu hiện trạng chùa chiền và Tăng sĩ: Cả nước có 463 chùa Khmer với khoảng 8.000 Tăng sĩ (chiếm ~15% trong tổng số 53.941 Tăng Ni cả nước; gồm 60 Hòa thượng, 127 Thượng tọa, 1.355 Đại đức, 6.427 Sa di). Phật tử Khmer có khoảng 1.097.000 người, 8.644 thành viên Ban Quản trị tại 445/463 chùa.

Bảng tổng hợp số lượng cơ sở chùa và Tăng sĩ PGNTK tại các tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ:

Tỉnh / Thành phố Số lượng chùa PGNTK Số lượng Tăng sĩ Khmer (vị)
Trà Vinh 143 3.255
Sóc Trăng 92 1.873
Kiên Giang 75 1.010
An Giang 66 (có 19 chùa Thommayutt) 1.100
Bạc Liêu 22 292
Vĩnh Long 13 219
Cần Thơ 12 128
Hậu Giang 15 70
Cà Mau 07 32
Tổng cộng vùng Tây Nam Bộ 445 7.979

(Ngoài ra còn có 18 chùa tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Hà Nội).

  • Hoạt động từ 1981: Tăng sĩ Khmer tham gia các cơ quan Trung ương GHPGVN qua các nhiệm kỳ I - VIII (Nhiệm kỳ VIII có 14 vị trong Hội đồng Chứng minh, 26 vị trong Hội đồng Trị sự). Học viện PGNTK thành lập năm 2006 tại Cần Thơ đào tạo 3 khóa cử nhân tốt nghiệp 98 Tăng sinh, khóa IV-V có 31 Tăng sinh; liên kết đào tạo cử nhân Tôn giáo học với 76 học viên; in ấn 82 đầu kinh sách trên 200.000 bản, nhập 473 bộ Đại Tạng Kinh chữ Khmer, thỉnh 96 đầu sách từ Campuchia.
  • Quá trình hình thành và phát triển của Hội: Năm 1964, Maha Sơn Thông đề xuất Khu ủy Tây Nam Bộ thành lập Hội ĐKSSYN khu Tây Nam Bộ, suy cử cố Hòa thượng Thạch Som làm Hội trưởng. Sau năm 1975, dù giải thể cấp Khu ủy nhưng Hội vẫn duy trì tại địa phương; năm 1981 tham gia thành lập GHPGVN; năm 1991 được củng cố theo Chỉ thị số 68-CT/TW. Hội mang tính chất là tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội của giới Tăng sĩ và Phật tử Khmer, thành viên của Mặt trận Tổ quốc.

Chương 3: Thực trạng Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ và vấn đề đặt ra hiện nay

Chương 3 đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của Hội ĐKSSYN tại 8 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ dựa trên các nguồn tư liệu khảo sát thực tế và thống kê (Bảng 3.1 về số lượng Tăng sĩ 1975 - 1998, Bảng 3.2 về khảo sát tiêu chí cộng đồng):

  • Ưu điểm: Hội thực hiện tốt vai trò tập hợp Tăng sĩ, Phật tử chấp hành chủ trương, chính sách; tham gia giữ gìn an ninh biên giới; tổ chức các lớp dạy chữ Pali - Khmer, bổ túc văn hóa (hàng năm có từ 4.000 học viên); bảo tồn các loại hình văn hóa cổ truyền (Đua Ghe Ngo, Trống Sa Dăm, Nhạc Ngũ Âm) và tham gia công tác từ thiện xã hội.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Chưa có Điều lệ và Quy chế hoạt động thống nhất chung cho toàn vùng dẫn đến mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động phân tán; xảy ra tình trạng lấn sân, chồng chéo chức năng giữa Hội ĐKSSYN và Ban Trị sự Phật giáo cùng cấp (do nhân sự lãnh đạo Hội kiêm nhiệm các vị trí chủ chốt của Ban Trị sự); điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động và chế độ phụ cấp cho cán bộ chuyên trách còn khó khăn; việc củng cố Hội chưa đồng đều (tỉnh An Giang chưa lập Hội).
  • Vấn đề đặt ra: Cần giải quyết sự cần thiết tồn tại và định vị mô hình tổ chức của Hội; phân định ranh giới trách nhiệm giữa tổ chức tôn giáo (BTSPG) và tổ chức xã hội (Hội ĐKSSYN); chủ động phòng ngừa các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo của các tổ chức phản động bên ngoài.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ

Chương 4 tập trung vào định hướng và các giải pháp thực thi:

  • Dự báo xu hướng: Tác động của quá trình thế tục hóa, đô thị hóa làm giảm số lượng thanh thiếu niên Khmer xuất gia tu học; hoạt động lôi kéo, kích động từ các phần tử phản động lưu vong; sự gia tăng giao lưu quốc tế của PGNTK.
  • Quan điểm chỉ đạo: Khẳng định sự tồn tại của Hội ĐKSSYN là tất yếu khách quan và cần thiết; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; kết hợp chặt chẽ giữa công tác dân tộc và công tác tôn giáo; tôn trọng truyền thống văn hóa và tính biệt truyền của hệ phái PGNTK.
  • Giải pháp cơ bản:
    1. Ban hành Điều lệ và Quy chế hoạt động thống nhất cho các cấp Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ.
    2. Phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quy chế phối hợp công tác giữa Hội ĐKSSYN và Ban Trị sự GHPGVN các cấp.
    3. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng Tăng sĩ Khmer về Phật học, thế học, pháp luật và kỹ năng công tác xã hội.
    4. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc và chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ thường trực của Hội.
    5. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn tiếng nói, chữ viết Pali - Khmer, trùng tu chùa chiền và nâng cao đời sống cho đồng bào Khmer.
  • Kiến nghị: Đề xuất các nội dung cụ thể đối với Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Trị sự GHPGVN và cấp ủy, chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tiến trình hình thành, giải thể, duy trì khách quan và củng cố, kiện toàn của Hội ĐKSSYN vùng Tây Nam Bộ từ năm 1964 đến năm 2019. Luận án luận giải bản chất, tính chất đặc thù của một tổ chức "vừa có yếu tố dân tộc, vừa có yếu tố tôn giáo"; vận dụng các lý thuyết cấu trúc - chức năng, thế tục hóa và xung đột xã hội để làm sáng tỏ vai trò của Hội trong hệ thống chính trị - xã hội; qua đó cung cấp các luận cứ khoa học khẳng định sự tồn tại của tổ chức Hội ĐKSSYN trong giai đoạn hiện nay là tất yếu và cần thiết.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh khách quan, toàn diện về thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội ĐKSSYN tại 8 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ; chỉ rõ những hạn chế về cơ chế vận hành và nguyên nhân của sự chồng chéo giữa Hội và Ban Trị sự Phật giáo cùng cấp. Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp cơ bản cùng hệ thống kiến nghị sát thực tiễn gửi tới các cơ quan trung ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chính quyền địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng Tây Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 1991 đến năm 2019 và tập trung vào 8 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ đã thành lập Hội, luận án chưa khảo sát sâu địa bàn tỉnh An Giang (nơi có 66 chùa Khmer nhưng chưa thành lập Hội ĐKSSYN) cũng như các tỉnh, thành phố thuộc miền Đông Nam Bộ có đồng bào Khmer sinh sống. Một số số liệu điều tra xã hội học và thống kê lịch sử phụ thuộc vào nguồn báo cáo chuyên đề của các cơ quan chức năng.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình sau có thể mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình quản lý, tập hợp Tăng sĩ và Phật tử Khmer giữa các địa phương có Hội ĐKSSYN và địa phương chưa lập Hội (như An Giang); nghiên cứu sâu hơn về tác động của quá trình thế tục hóa và mạng xã hội đối với đời sống tu học của Tăng sinh trẻ tại các chùa Khmer trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Tôn giáo học, Dân tộc học, Xã hội học tôn giáo, Lịch sử và Xây dựng Đảng.
  • Cán bộ làm công tác lãnh đạo, tham mưu, quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, tôn giáo tại Ban Dân vận, Ban Tôn giáo, Cơ quan công tác Dân tộc, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các lực lượng vũ trang địa bàn Tây Nam Bộ.
  • Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh, thành phố và Ban Chấp hành Hội ĐKSSYN các cấp.

Các phần có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm: Chương 2 với hệ thống số liệu tư liệu chi tiết về lịch sử du nhập, đặc điểm giáo lý, giới luật, chi phái và thống kê cơ sở chùa, Tăng sĩ PGNTK; Chương 3 và Chương 4 với các phân tích về cơ chế phối hợp, giải quyết sự chồng chéo giữa tổ chức tôn giáo thuần túy và tổ chức đoàn thể xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước khu Tây Nam Bộ được thành lập vào thời gian nào, do ai khởi xướng và ai giữ chức vụ Hội trưởng đầu tiên? Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước khu Tây Nam Bộ được chính thức thành lập vào mùa thu năm 1964, do ông Maha Sơn Thông đề xuất với Khu ủy Tây Nam Bộ. Cố Hòa thượng Thạch Som (ở chùa Ô Mịch) được suy cử làm Hội trưởng đầu tiên.

2. Sau năm 1975, văn bản nào của Đảng quyết định giải thể Khu ủy Tây Nam Bộ và văn bản nào chủ trương tái lập, củng cố Hội ĐKSSYN? Ngày 29/9/1975, Hội nghị lần thứ XXVI Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 247-NQ/TW quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam và các Khu ủy (trong đó có Khu ủy Tây Nam Bộ và các tổ chức trực thuộc). Đến ngày 18/4/1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW chủ trương lập lại Hội ĐKSSYN hoặc các hình thức thích hợp.

3. Số lượng chùa và Tăng sĩ Phật giáo Nam tông Khmer tại Việt Nam được luận án thống kê như thế nào? Cả nước có 463 ngôi chùa Khmer (trong đó 445 chùa tập trung tại vùng Tây Nam Bộ, nhiều nhất là Trà Vinh 143 chùa, Sóc Trăng 92 chùa, Kiên Giang 75 chùa, An Giang 66 chùa). Số lượng Tăng sĩ Khmer dao động khoảng 8.000 vị (chiếm khoảng 15% tổng số 53.941 Tăng Ni cả nước), gồm 60 Hòa thượng, 127 Thượng tọa, 1.355 Đại đức và 6.427 Sa di.

4. Đâu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chồng chéo hoạt động giữa Hội ĐKSSYN và Ban Trị sự Phật giáo cùng cấp? Do chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất chung về Điều lệ và Quy chế hoạt động; đồng thời hầu hết các vị chức sắc lãnh đạo Hội ĐKSSYN địa phương đều đồng thời nắm giữ các cương vị chủ chốt trong Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo cùng cấp, dẫn đến việc chưa phân định ranh giới rõ ràng giữa công việc tôn giáo thuần túy và công tác vận động đoàn thể xã hội.

5. Luận án đã vận dụng những lý thuyết nghiên cứu nào để luận giải vai trò của Hội ĐKSSYN? Luận án vận dụng 3 lý thuyết nghiên cứu chính gồm: Lý thuyết cấu trúc - chức năng (luận giải chức năng liên kết xã hội của tôn giáo và tính tất yếu của thiết chế Hội), Lý thuyết thế tục hóa (giải thích sự biến đổi số lượng Tăng sĩ và xu hướng nhập thế), và Lý thuyết mâu thuẫn/xung đột (nhận diện, quản lý và giải tỏa các mâu thuẫn xã hội - tôn giáo).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bạch Thanh Sang là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ từ nguồn gốc lịch sử năm 1964 đến thực tiễn giai đoạn 1991-2019. Tác phẩm làm rõ tính chất tổ chức đặc thù vừa mang yếu tố dân tộc, vừa mang yếu tố tôn giáo, đồng thời cung cấp các căn cứ khoa học khẳng định sự cần thiết duy trì và hoàn thiện tổ chức Hội. Hệ thống 5 giải pháp và các kiến nghị do luận án đề xuất có giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ.