CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCHBẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Một số khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp, chính sách bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm thất nghiệp và ảnh hưởng của thất nghiệp đến người lao động 1. Khái niệm thất nghiệp Lao động được hình thành và phát triển cùng với xã hội loài người.
Lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất của con người và đồng thời cũng là nghĩa vụ cao cả của mọi công dân. Như vậy, mỗi người chúng ta muốn sống, tồn tại thì đều phải lao động hay nói cách khác là phải có việc làm. Tuy nhiên, ở mọi xã hội không phải lúc nào nhu cầu làm việc của mọi cá nhân đều được đáp ứng đầy đủ. Trong xã hội luôn có một bộ phần người lao động không có việc làm, bị mất việc làm, thiếu việc làm.
Tuy nhiên, tất cả người đó có được coi là thất nghiệp hay không? Có rất nhiều quan điểm về thất nghiệp: Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO ), thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong độ tuổi lao động, muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động. Còn người thất nghiệp là người trong đổ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm, muốn làm việc và hiện rất sẵn sàng để làm việc, đang tích cực tìm kiếm việc làm. Tại Việt Nam, Bộ Luật lao động ( sửa đổi năm 2002 ), ngoài việc quy định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, đã quy định về thất nghiệp và người thất nghiệp. Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì để hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như 10 không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Người lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người lao động có việc làm. Tùy theo tình hình kinh tế-xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm. Người lao động thiếu việc làm có thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ.
Hiện tượng thất nghiệp tạm thời thường xảy ra đối với lao động làm việc trong các ngànhnông nghiệp, ngư nghiệp. Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương tối thiểu. Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 đối với nam, đến 55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm. Theo định nghĩa này, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao gồm : - Người lao động đang làm việc vị mất việc làm vì các lý do sau: Doanh nghiệp phá sản; Doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ mới; Doanh nghiệp giải thể theo quy định của pháp luật; Người lao động bị chấm dứt hợp đông lao động trước thời hạn, bị sa thải, hợp động lao động hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng.
- Người lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt 11 nghiệp hoặc thôi học nhưng chưa tìm được việc làm. - Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, người lao động đi xuất khẩu lao động về nước chưa có việc làm. - Những đối tượng sau thời gian quản giáo hoặc chữa trị bệnh đang có nhu cầu về việc làm. - Những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất.
Những người không bị coi là thất nghiệp bao gồm: - Những người có việc làm nhưng hiện tại không làm việc vì một lý do nào đó như nghỉ phép, nghỉ ốm, tai nạn. - Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việc làm. Như vậy, không phải tất cả những người không có việc làm đều là người thất nghiệp. Chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp.
Người thất nghiệp được quy định trong Bộ Luật lao động của Việt Nam bao gồm cả những người lao động đã từng đi làm và cả những người chưa từng đi làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm. Ảnh hưởng của thất nghiệp đến người lao động Thất nghiệp không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân người lao động và gia đình họ mà còn tác động mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. - Đối với bản thân người lao động và gia đình : Thất nghiệp làm giảm hoặc cắt đứt nguồn thu nhập của người lao động, đồng thời cắt đứt phương tiện sinh sống của họ và gia đình họ. Do đó, đời sống bản thân người lao động vả gia đình họ sẽ khó khăn, nghèo túng họ không có khả 12 năng thanh toán cho các chi phí thường ngày như: tiền nhà, tiền điện, tiền nước.
Do thất nghiệp mà có khi bỗng chốc có người trở thành vô gia cư (bị đuổi ra khỏi nhà đang thuê). Ngoài những ảnh hưởng về kinh tế thất nghiệp còn gây ra những tổn hại về mặt tinh thần của người lao động như đời sống, sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm sóc y tế. Hậu quả là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và nếu kéo dài sẽ dẫn đến nợ nần chồng chất. Sự tác động vào thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào tiền thất nghiệp của bản thân họ nhận được cũng như thu nhập của những thành viên khác trong gia đình còn việc làm.
Nạn thất nghiệp cũng không chỉ là hậu quả về tài chính mà còn là hậu quả về khả năng nghề nghiệp. Thất nghiệp làm cho người lao động mất đi cơ hội làm việc đúng với trình độ chuyên môn, năng lực của mình. Khi thất nghiệp kéo họ sẽ mất đi khả năng nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề của mình. Mất đi cơ hội học tập, làm việc để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của bản thân người lao động.
Thất nghiệp còn không tự động xóa bỏ những rào cản đối với những người có việc làm trở lại, hòa nhập với đời sống xã hội chung. Điều này diễn ra đối với những người lao động, đặc biệt đối với người sau khi thất nghiệp, phải xác lập mối quan hệ lao động mới, thường đi liền với điều kiện làm việc và điều kiện tài về tài chính kém hơn việc làm trước đó. - Đối với nền kinh tế : Thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển. Vì khi đó có một bộ phận người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì lý do khách quan không có việc làm nên làm sức sản xuất trong nước và thu nhập quốc dân thấp hơn 13 so với khi mọi người đều có việc làm.
Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau, đôi khi tạo thành vòng luẩn quẩn không thoát được, Bên cạnh đó, thất nghiệp có thể làm cho xã hội bất ổn. Đến lượt nó làm cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hơn và có khả năng phục hồi chậm. - Đối với chính trị, xã hội : khi bị thất nghiệp, người lao động luôn ở trong tình trạng hoang mang, lo lắng, căng thẳng và thất vọng. Đặc biệt nếu người lao động là trụ cột, nuôi sống cả gia đình thì áp lực tâm lý càng đè nặng lên người lao động.
Từng cá nhân là tế bào của gia đình, mỗi gia đình là tế bào của xã hội, như vậy thất nghiệp tác động đến cá nhân người lao động có nghĩa là đã tác động đến toàn xã hội. Bởi vì, thất nghiệp sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực của xã hội, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương, vi phạm pháp luật, hủy hoại đạo đức để kiếm kế sinh nhai, kiếm tiền trang trải cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, ma túy. Thất nghiệp là sự phí phạm nguồn nhân lực, không thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời dễ dẫn đến những xáo trộn về xã hội, tình hình chính trị trở nên bất ổn, rối loạn nếu không được can thiệp kịp thời. Thất nghiệp gây ra các cuộc biểu tình, đình công, là cơ hội cho các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động chống phá nhà nước, chống phá Đảng cầm quyền.
Hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút. Thất nghiệp còn làm cho người lao động giảm lòng tin vào chế độ, giảm lòng tin vào khả năng lãnh đạo của chính phủ cầm quyền. Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị. Bảo hiểm thất nghiệp và vai trò của bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế.
Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Khái niệm BHTN được tiếp cận dưới rất nhiều góc độ khác nhau nhưng được khái quát một cách rõ ràng, đầy đủ nhất trong Luật việc làm về BHTN: “BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp” [1]. Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ. Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp.