PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài An sinh xã hội (ASXH) là quyền cơ bản của mỗi công dân, là mục tiêu đảm bảo đời sống ổn định chính trị xã hội, là thước đo quan trọng phản ánh trình độ phát triển bền vững của đất nước, những thành quả ASXH đạt được sẽ góp phần hiện thực hóa quan điểm lấy con người là trung tâm và “không ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển. Bởi vậy, phát triển hệ thống ASXH toàn diện cũng chính là góp phần phát triển kinh tế, phát triển đất nước, là trọng trách của toàn hệ thống chính trị và trách nhiệm của toàn xã hội. ASXH là một trong những mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc đảm bảo ASXH được đề cập toàn diện, xuyên suốt trong hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng ta.
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 đã đặt ra mục tiêu: “Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm ASXH toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân” [70]. Tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) tiếp tục xác định đây là một lĩnh vực quan trọng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước. Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, tiếp tục bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm…”[42,tr.47], góp phần nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Ở góc độ kinh tế phát triển, ASXH hội gắn liền với mục tiêu ổn định xã hội, một phần quyết định của mối quan hệ phát triển - ổn định và ổn định – phát triển.
Bên cạnh đó, ASXH và tăng trưởng kinh tế (TTKT) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần tác động tới kinh tế phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên cơ sở đảm bảo công bằng xã hội, TTKT cao và bền vững. ASXH tác động tích cực đến sự ổn định và phát triển kinh tế, mang đến trạng thái an toàn trước những rủi to biến cố, giảm sức ép đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, mối quan hệ này ở mỗi vùng/miền khác nhau lại mang các sắc thái khác nhau, 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa 2 f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 phù thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, mức thu nhập và đặc thù văn hóa – xã hội,. Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc bộ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của cả nước, là tâm điểm hội tụ nguồn lực và nguyên khí quốc gia, địa bàn hội nhập và giao thương, đồng thời là hạt nhân phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước, đóng vai trò đầu tầu trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng ASEAN và trên trường quốc tế.
Từ những năm gần đây, vùng KTTĐ Bắc bộ đã được xây dựng và trở thành một “cực tăng trưởng”, là một cực phát triển dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế, thực hiện tái cấu trúc kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do đó mức sống dân cư tại vùng KTTĐ Bắc bộ luôn cao hơn mức trung bình chung của cả nước, kinh tế phát triển và TTKT đã giúp cho việc thực thi chính sách ASXH đặt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cũng như nhiều vùng/ miền khác của cả nước, trong nội vùng KTTĐ Bắc bộ cũng vẫn có những sự chênh lệch về nhu cầu đảm bảo ASXH, vẫn còn tồn tại những hộ nghèo và hộ cận nghèo, hệ thống chính sách ASXH nói chung và việc thực thi chính sách ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ cũng bộc lộ nhiều bất cập cần được khắc phục và hoàn thiện: đặc biệt là chưa có thể chế và các quy chế về ASXH cho riêng vùng KTTĐ Bắc bộ, thiếu sự phối hợp giữa các ngành và địa phương trong vấn đề ASXH, ngân sách để thực hiện ASXH còn hạn chế. Hơn nữa, qua đại dịch COVID-19 càng thấy được rõ sự lúng túng trong công tác đảm bảo các thành tố trong hệ thống ASXH về bảo hiểm, y tế, việc làm, các dịch vụ xã hội cơ bản,.
khi người dân gặp biến cố khi dịch bệnh xảy ra: hàng loạt công nhân bị nghỉ việc do các nhà máy, xí nghiệp trên vùng KTTĐ Bắc bộ phải thực hiện giãn cách xã hội, những đối tượng yếu thế rơi vào những hoàn cảnh rủi ro ngày càng khó khăn. Quá trình hội nhập quốc tế dẫn đến những áp lực cạnh tranh gay gắt trong cung ứng nguồn nhân lực, việc làm, sự di chuyển lao động đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết đối với hệ thống ASXH trên vùng. Bối cảnh mới cũng tác động rất nhiều tới các doanh nghiệp FDI trên vùng khi bị cắt giảm đơn hàng cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của người dân, khiến cho việc đảm bảo ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ ngày càng trở lên cấp thiết hơn. Những bất cập trên vừa phụ thuộc vào tình hình kinh tế chung, vừa phản ánh việc thiếu nghiên cứu đầy đủ các vấn đề lý luận và thực tiễn của ASXH.
Có thể thấy, 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa 3 f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 nghiên cứu về ASXH không phải là vấn đề mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, ASXH lại một vấn đề còn nhiều tranh cãi, chưa thống nhất về mặt lý luận tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, đặc biệt là việc chưa làm rõ và thống nhất về khái niệm và các thành tố cấu thành ASXH. Do vậy, cần một nghiên cứu mang tính kế thừa và cập nhật và làm sáng tỏ hơn so với các nghiên cứu từ trước tới nay về ASXH. Cho đến nay, không có nhiều nghiên cứu về ASXH trong phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, có thể nói chưa có một nghiên cứu nào hệ thống toàn diện các mặt lý luận và thực tiễn về ASXH, mối quan hệ giữa ASXH và TTKT để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn của một vùng KTTĐ của đất nước. Hơn nữa, cũng chưa có luận án nào chủ đề về ASXH vùng dưới góc nhìn chuyên ngành Kinh tế phát triển. Chính vì tầm quan trọng và những khó khăn, thách thức còn tồn tại trong vấn đề trên, nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài “An sinh xã hội trên vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ” làm chủ đề nghiên cứu của luận án, nhằm góp phần hoàn thiện và hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về ASXH, đi sâu phân tích mối quan hệ giữa ASXH và TTKT, đồng thời đưa ra một số giải pháp tăng cường ASXH trên vùng KTTĐ của đất nước trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ, mối quan hệ giữa ASXH và TTKT, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp tăng cường ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ trong giai đoạn 2023 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung, luận án tập trung 3 mục tiêu cụ thể như sau: Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về ASXH. Hai là, đánh giá thực trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ. Phân tích mối quan hệ giữa TTKT và ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ trong giai đoạn 2010-2021 như một cực tăng trưởng.
Ba là, đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường ASXH trên vùng KTTĐ Bắc bộ thích ứng với bối cảnh mới trong giai đoạn 2023-2030 và triển vọng tầm nhìn đến năm 2045.