Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành Chương 2: Thực trạng đạo Tin lành và quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn 1.
Tôn giáo và hoạt động tôn giáo 1. Tôn giáo: Có thể nói tôn giáo đã xuất hiện trong xã hội loài người cách đây hàng chục nghìn năm, hàng ngàn năm qua đã có nhiều nghiên cứu về tôn giáo dưới các góc độ tiếp cận của các nhà khoa học, những người quan tâm nghiên cứu và các quan điểm khác nhau. Nhưng chỉ đến khi chủ nghĩa Mác – Lê nin ra đời chúng ta mới thấy được cách nhìn nhận tôn giáo một cách toàn diện, biện chứng và đi vào bản nhất. Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì con người đã tạo ra tôn giáo hay nói một cách khác, tôn giáo là một sản phẩm xã hội của con người, nó là phạm trù lịch sử.
Tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người và sẽ tồn tại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin vào cách mạng Việt Nam trong đó có các quan niệm về tôn giáo. Từ đó đã h nh thành lên và ngày càng hoàn thiện một hệ thống đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước để đảm bảo các quyền con người, đảm bảo xây dựng được lực lượng cách mạng là quần chúng theo tôn giáo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Liên quan đến cách giải thích về tôn giáo, trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam đưa ra cách hiểu về tôn giáo.
Khoản 5, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn 11 tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tư ng tôn thờ, giáo lý, giáo lu t, l nghi và t ch c”.1] Bên cạnh đó, c ng có ý kiến cho rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến cộng đồng người có chung niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, huyền bí; có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và có tổ chức. Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, người ta đưa ra những quan niệm khác nhau về tôn giáo. Mặc dù việc giải thích khái niệm này khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, tuy nhiên, về phương diện quản lý nhà nước, khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thường được tiếp cận từ góc độ thực thể xã hội tôn giáo được thể hiện bằng các yếu tố để nhận biết một tôn giáo đó là: + Giáo lý (kinh sách, giáo luật, lễ nghi, sấm giảng…); + Giáo sỹ (nhà tu hành, chức sắc, chức việc, …của tôn giáo); + Giáo dân (tín đồ của tôn giáo); + Giáo hội (tổ chức tôn giáo với đường hướng hoạt động đặc trưng của một tôn giáo). Hoạt động tôn giáo: Theo Khoản 11, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý t ch c tôn giáo”.
Tín đồ có quyền tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện, tham gia các hình thức sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo. Hoạt động tôn giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; hoạt động tôn giáo đảm bảo an toàn, tiết kiệm, tôn trọng quy định của cơ sở tôn giáo và tuân thủ quy định của pháp luật. 12 Truyền bá tôn giáo (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về giới luật của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của các tín đồ được củng cố, giới luật trong tôn giáo được tín đồ thực hiện.
Đối với những người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo. Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo. Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện quy định của giáo luật, hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói chung và đạo Tin lành nói riêng Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước.
Quản lý nhà nước về tôn giáo là thuộc loại quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành. Khi Nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm - quản lý nhà nước xuất hiện. Hiện nay, khái niệm QLNN được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội.
Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, U ban nhân dân các cấp). 13 Từ khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về QLNN đối với hoạt động tôn giáo theo hai nghĩa như sau: Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình sử dụng quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động nhằm điều chỉnh, hướng các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý. Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật. Đạo Tin lành Đạo Tin lành ra đời, ở châu Âu vào thế k XVI có nguồn gốc chính trị xã hội sâu xa.
Trước hết là sự xuất hiện của giai cấp tư sản với những yêu cầu mới về chính trị, xã hội, tư tưởng tôn giáo. Tên gọi của mỗi tôn giáo đều mang một ý nghĩa riêng, có khi nó liên quan đến một địa danh, một nhân vật sáng lập, một điển tích lịch sử hay mỗi xu hướng giáo lý, thần học. C ng có khi tên gọi của một tôn giáo xác định mối quan hệ mang tính lịch sử…. Tên gọi của đạo Tin lành, có một ý nghĩa riêng và chỉ rõ mối quan hệ giữa đạo Tin lành với các tôn giáo trong Kitô giáo.
Đạo Tin lành ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các phong trào chống lại quyền lực Giáo hoàng và Giáo triều Roma từ nhiều thế k trước như phong trào Vaudois ở Pháp thế k XII, phong trào John Wyciff ở Anh thế k XIV,… Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức vào tháng 11 năm 1517 bằng việc Martin Luther công bố “95 luận đề” chống lại quyền lực của Giáo hoàng và Giáo triều Roma cùng việc 14 bán “bùa xá tội”. Từ nước Đức, phong trào lan sang các nước Pháp, Anh, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Thủy Điển,… để đến giữa thế k XVII sau cuộc chiến tranh ba mươi năm (1618-1648), hình thành một tôn giáo mới tách khỏi Công giáo: đạo Tin lành. Trên thực tế, đạo Tin lành có rất nhiều tên gọi khác nhau. Lúc đầu Giáo hội Công giáo và phong kiến Châu Âu gọi là đạo rối hay tà đạo và dùng thuật ngữ Thệ phản (Protestantism) [40, tr54] để chỉ đạo Tin lành.
Thuật ngữ này dịch theo nghĩa Hán Việt là đạo Thệ phản hay là đạo chống đối, đạo phản kháng lại giáo lý Công giáo. Thực chất đạo Tin lành là kết quả của phong trào cải cách tôn giáo nên trong nhiều trường hợp người ta còn gọi đạo Tin lành là đạo Cải cách (Reformism). Đạo Tin lành là một tôn giáo mới nên trong một số trường hợp người ta lại gọi đạo Tin lành là Tân giáo. Như vậy đạo Tin lành có nhiều cách gọi: đạo Thệ phản, đạo Cải cách, đạo Tân giáo.
Xuất phát từ Kinh Thánh và theo tính chất cải cách, việc truyền đạo Tin lành gắn liền với việc dịch Kinh thánh và giảng Phúc âm. Do vậy từ cuối thế k XVIII cùng với phong trào Phúc âm (Evangelism), tên gọi Phúc âm c ng được dùng để chỉ đạo Tin lành. Khi truyền vào Việt Nam cuối thế k XIX, đạo Tin lành được người miền Bắc gọi theo cách người Trung quốc là "đạo Thệ phản", ở miền Trung gọi là đạo "Gia-tô", ở miền Nam gọi là đạo "Huê kỳ". Đầu những năm 20, 30 của thế k XX, giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội Liên hiệp Cơ đốc và Truyền giáo (The Christian and Missionnary Alliance - thường được gọi tắt là Hội Truyền giáo CMA) cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh thánh ra tiếng Việt Nam.
Hai ông không dịch Phúc âm (Evangelism) là "Tin mừng" mà dịch là "Tin lành". C ng có tài liệu cho rằng hai ông đã sử dụng lại thuật ngữ "Tin lành" từ bản dịch Kinh thánh của một giáo sĩ Công giáo (cố Chính Linh). Trên thực tế, việc dùng từ "Tin lành" đã tránh cho tôn giáo này các cách gọi 15 không thiện cảm như "đạo bỏ ông bỏ bà", "đạo rối",. dễ đi vào l ng người hơn.
Cách gọi này dần dần thành thói quen và tồn tại cho đến ngày nay.