Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG 1. QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG. Khái niệm và bản chất của Quỹ đầu tư: Từ “Quỹ” trong tiếng Việt được hiểu là số tiền thu góp lại để làm một việc gì đó. “Quỹ đầu tư” bản thân nó thể hiện mục đích của số tiền góp lại nhằm tiến hành đầu tư.
Trong các tài liệu khác nhau cũng như trong các văn bản pháp lý của các nước có ngành Quỹ đầu tư, người ta đưa ra nhiều cách định nghĩa về Quỹ đầu tư với khái niệm rộng hẹp cũng như các tiêu chí khác nhau. Các Quỹ đầu tư tại Mỹ được định nghĩa là các tổ chức tài chính phi ngân hàng thu nhận tiền từ một số lượng lớn các nhà đầu tư và tiến hành đầu tư từ số vốn đó vào các tài sản tài chính có tính thanh khoản dưới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trường tài chính. Các Quỹ đầu tư tại Anh được coi là một hình thái về tài sản hoặc bất kỳ loại nào với mục đích là cho phép những người tham gia vào các hình thái đó thu lợi nhuận phát sinh từ việc mua, giữ, quản lý hoặc xử lý các tài sản thuộc đối tượng đầu tư của Quỹ. Tại Thái Lan, việc quản lý một Quỹ đầu tư có nghĩa là việc quản lý đầu tư theo một dự án bằng cách phát hành các đơn vị đầu tư của mỗi dự án để bán cho công chúng và đầu tư tiền thu được vào chứng khoán hoặc các tài sản khác hoặc đầu tư thu lợi nhuận bằng các cách khác.
Các Quỹ đầu tư tại Nhật Bản được coi là một sản phẩm hình thành nhằm đầu tư số tiền tập hợp được từ một số lớn các nhà đầu tư vào chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu), tập trung dưới sự quản lý của những người 123doc 16 không phải là người đầu tư và phân phối lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn mà họ đóng góp vào Quỹ. Từ các định nghĩa theo quy định của luật một số nước, có thể tổng hợp và rút ra khái niệm chung thể hiện bản chất hoạt động của Quỹ đầu tư: “Quỹ đầu tư là tổ chức được hình thành bằng sự đóng góp vốn của người đầu tư để đầu tư vào danh mục các tài sản hoặc công cụ trên thị trường tài chính nhằm đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư và phân tán rủi ro”. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương: 1. Khái niệm: - Quỹ ĐTPT địa phương là một định chế tài chính của địa phương nhằm ĐTPT hạ tầng kỹ thuật; - Quỹ ĐTPT địa phương là tiền đề cho việc chuyển hoá một phần hoạt động đầu tư của Nhà nước sang cho toàn xã hội nhằm thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Nhà nước chỉ tập trung đầu tư vào các dự án, chương trình quan trọng, những dự án không có khả năng thu hồi vốn, hoặc những dự án phục vụ lợi ích cộng đồng. Đối với các dự án, chương trình gắn liền với KT - XH theo địa bàn và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thì việc đầu tư sẽ được xã hội hoá thông qua các kênh khác nhau, trong đó có kênh Quỹ ĐTPT địa phương. - Quỹ ĐTPT địa phương là công cụ tài chính để huy động các nguồn lực tài chính phục vụ cho mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật theo chiến lược phát triển KT - XH đã được HĐND tỉnh, thành phố phê chuẩn. - Vốn của Quỹ ĐTPT địa phương là nguồn vốn mồi để huy động các nguồn vốn khác từ mọi thành phần kinh tế trong xã hội, tạo nên động lực mới để thu hút các nguồn lực tài chính trên địa bàn cùng tham gia đầu tư.
123doc 17 - Hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương bổ trợ cho các kênh đầu tư khác hiện có và tạo nên một mạng lưới đầu tư hoàn chỉnh trên địa bàn các tỉnh, thành phố. - Hình thành thêm một định chế trung gian tài chính mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước. Như vậy Quỹ ĐTPT địa phương là một tổ chức tài chính của chính quyền địa phương (chính quyền cấp tỉnh, thành phố hoặc chính quyền các bang đối với các quốc gia có tổ chức hành chính theo mô hình liên bang) thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Quỹ ĐTPT địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán và con dấu riêng.
Quỹ ĐTPT địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro. Chức năng: - Tiếp nhận vốn NSĐP, vốn tài trợ, viện trợ; huy động các nguồn vốn trung và dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật để tạo nguồn vốn thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng KT – XH của địa phương. - Tiếp nhận, quản lý nguồn vốn uỷ thác từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các hoạt động theo hợp đồng uỷ thác; phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo uỷ quyền của UBND tỉnh, thành phố để huy động vốn cho NSĐP. - Nhận uỷ thác quản lý hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, Quỹ phát triển nhà ở và một số Quỹ khác.
- Thực hiện ĐTTT vào các dự án, cho vay đầu tư, góp vốn thành lập doanh nghiệp; uỷ thác cho vay đầu tư, thu hồi nợ. Nguồn vốn hoạt động: 1. Vốn chủ sở hữu: - Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPT địa phương bao gồm: vốn điều lệ được bố trí trong dự toán chi ngân sách hoặc nguồn tăng thu ngân sách địa phương hàng năm và được bổ sung từ Quỹ đầu tư phát triển (điểm b khoản 6 Điều 40 Nghị định 138/2007/NĐ-CP); tiền đóng góp tự nguyện, các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật để hình thành vốn chủ sở hữu. - Việc thay đổi vốn điều lệ của Quỹ ĐTPT địa phương do UBND cấp tỉnh, thành phố quyết định và thông báo cho Bộ Tài chính; nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu phải có tại thời điểm thành lập là 100 tỷ đồng (khoản 2 Điều 30 Nghị định 138/2007/NĐ-CP).
Vốn huy động: Quỹ ĐTPT địa phương được huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm: - Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước. Việc vay vốn ngoài nước thực hiện theo quy định của pháp luật về vay nợ nước ngoài; - Phát hành trái phiếu Quỹ ĐTPT địa phương theo quy định của pháp luật; - Các hình thức huy động vốn trung và dài hạn khác theo quy định của pháp luật. Tổng mức vốn huy động theo các hình thức trên tối đa bằng 6 lần vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPT địa phương tại cùng thời điểm. Nguyên tắc hoạt động: - Quỹ ĐTPT địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro.
NSNN không cấp kinh phí cho hoạt động của bộ máy của Quỹ ĐTPT địa phương. - Quỹ ĐTPT địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán, có con dấu riêng và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPT địa phương. Cơ cấu tổ chức: Quỹ ĐTPT địa phương tổ chức theo mô hình hoạt động độc lập. Tổ chức bộ máy của Quỹ ĐTPT địa phương bao gồm: Hội đồng quản lý, Ban Kiểm soát và bộ máy điều hành.
Hội đồng quản lý: - HĐQL có tối đa 7 người. UBND tỉnh, thành phố căn cứ điều kiện thực tế quyết định số lượng thành viên của HĐQL theo nguyên tắc số lượng thành viên HĐQL phải là số lẻ. - Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên khác của HĐQL do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm. - Thành phần, cơ cấu, tiêu chuẩn, số lượng, nhiệm kỳ hoạt động của HĐQL được quy định tại Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương.
Ban Kiểm soát: Ban Kiểm soát có tối đa 5 thành viên. Trưởng Ban Kiểm soát do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của HĐQL; các thành viên khác của Ban Kiểm soát do HĐQL bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Trưởng Ban Kiểm soát. Bộ máy điều hành: Bộ máy điều hành của Quỹ ĐTPT địa phương gồm Ban Giám đốc (Giám đốc, Phó Giám đốc) và các Phòng, Ban nghiệp vụ. - Giám đốc Quỹ là Uỷ viên của HĐQL do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, là người đại diện pháp nhân của Quỹ ĐTPT địa phương, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố, HĐQL và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của Quỹ ĐTPT địa phương.
- Phó Giám đốc và Kế toán trưởng do Giám đốc Quỹ đề nghị HĐQL xem xét, trình Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm. - Việc tổ chức các Phòng, Ban nghiệp vụ của Quỹ ĐTPT địa phương do HĐQL quyết định căn cứ thực tế hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương, phù hợp với hướng dẫn tại Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương. Tuy nhiên về cơ bản có các Phòng, Ban như sau: + Phòng Kế hoạch: chịu trách nhiệm tiếp túc, lựa chọn, xúc tiến, lập danh mục các dự án đầu tư; lập kế hoạch triển khai thực hiện hoạt động Quỹ; theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện; nghiên cứu, xây dựng chiến lược trung và dài hạn, các đề án phát triển, các mục tiêu và giải pháp thực hiện; tổ chức công tác thống kê, tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động. + Phòng Tài chính – Kế toán: lập kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn và sử dụng, luân chuyển vốn; tổ chức thực hiện công tác kế toán.
+ Phòng Tín dụng: tổ chức thực hiện công tác cho vay đầu tư; tìm kiếm cơ hội đầu tư và xúc tiến nghiệp vụ cho vay từ nguồn vốn của Quỹ. + Phòng Quản lý vốn ủy thác: thực hiện việc tìm kiếm nguồn vốn ủy thác đầu tư; tiếp nhận và giải ngân các nguồn vốn ủy thác đầu tư; kiểm tra và thu hồi vốn đầu tư, lãi và phí phát sinh.