phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về doanh nghiệp và công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Uông Bí; Chƣơng 3: Biện pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Uông Bí. L LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trƣờng 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng k thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [8, tr.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi [8, tr. Nhƣ vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Phân loại doanh nghiệp Theo cách phân loại nào sẽ có các loại doanh nghiệp tƣơng ứng. * Căn cứ vào hình thức pháp lý, các loại hình doanh nghiệp bao gồm: - Hợp tác xã; - Doanh nghiệp nhà nƣớc; - Doanh nghiệp tƣ nhân; - Công ty trách nhiệm hữu hạn; - Công ty cổ phần; - Công ty hợp danh; - Nhóm công ty, doanh nghiệp liên doanh; - Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài.
* Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại doanh nghiệp thành: - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn; - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn. * Căn cứ vào phương thức đầu tư vốn có thể chia doanh nghiệp thành: - Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trong nƣớc; 5 - Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (bao gồm DN liên doanh và DN 100% vốn nƣớc ngoài). Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Cơ chế thị trƣờng là quá trình tƣơng tác lẫn nhau giữa các chủ thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lƣợng và cơ cấu sản xuất. Sự tƣơng tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trƣờng để quyết định ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào, sản xuất cho ai.
Ngƣợc lại, hoạt động của các chủ thể tạo nên sự tƣơng tác nói trên (dẫn theo [17, tr. Đặc điểm hoạt động các chủ thể trên là: - Trong cơ chế thị trƣờng, các chủ thể kinh tế có tính tự chủ rất cao. Nếu ở nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp các DN hoạt động rất bị động tất cả đều do cấp trên đƣa xuống các chỉ tiêu phải hoàn thành kế hoạch trong năm. thì trong nền kinh tế thị trƣờng các DN luôn phải vận động để làm sao có thể bù đắp đƣợc chi phí và kinh doanh có lãi đồng thời phải chịu trách nhiệm trƣớc kết quả sản xuất kinh doanh của mình.
- Trạng thái thị trƣờng: luôn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể. Cạnh tranh là một tất yếu của thị trƣờng bởi các DN đều mong muốn và coi mục tiêu cuối cùng của mình là thu đƣợc lợi nhuận. Chính vì vậy, khi tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng DN phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ trong cùng một ngành hoặc khác ngành. - Phạm vi thị trƣờng: mở c a thị trƣờng, hội nhập khu vực và quốc tế.
Một nền kinh tế mà hàng hoá luôn dồi dào thì sẽ dẫn đến sự ứ đọng hàng hoá trong nƣớc nếu ta không mở c a sẽ dẫn đến hiện tƣợng khủng hoảng thừa, do đó phải có những giao dịch với nƣớc ngoài để làm giảm hàng hoá thừa đồng thời tăng các loại hàng hoá còn thiếu hoặc chƣa sản xuất đƣợc. - Trên thị trƣờng hàng hoá rất phong phú, chính do sự năng động của từng DN để có thể tồn tại và phát triển mà họ phải luôn tìm cách tạo ra những 6 sản phẩm có chất lƣợng cao, mẫu mã đẹp, hàng hoá phải có nhiều chủng loại để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. - Hoạt động trong cơ chế điều tiết thị trƣờng gồm: sự điều tiết vô hình của kinh tế thị trƣờng và sự can thiệp, điều tiết hữu hình của Nhà nƣớc. Công tác iểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1.
Khái niệm về kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính về thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của ngƣời nộp thuế nhằm bảo đảm pháp luật thuế đƣợc thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội [2, tr. Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của NNT, CQT thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trƣờng hợp vi phạm pháp luật thuế. Kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Mục tiêu, nguyên tắc và vai trò kiểm tra thuế * Mục tiêu của kiểm tra thuế Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp NNT và CQT thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản l thu Ngân sách đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành.
Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tƣợng nộp thuế và ngƣời thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và x lý những mặt tiêu cực. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, Cơ quan Thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đƣa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách đƣợc các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp l hơn. 7 Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hƣớng dẫn NNT nắm đƣợc nghĩa vụ và quyền hạn khi thực hiện luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ, kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi tiêu cực, xây dựng CQT trong sạch vững mạnh. * Nguyên tắc kiểm tra thuế Mục đích của kiểm tra thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, x lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nƣớc, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Để đạt đƣợc mục đích trên, công tác kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc sau: Thứ nhất, tuân thủ pháp luật. Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nƣớc, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Kiểm tra thuế là việc thực hiện pháp luật nên kiểm tra thuế cũng phải tuân theo pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế.
Thứ hai, trung thực, chính xác, khách quan. Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tƣợng kiểm tra, x l đúng ngƣời, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tƣợng nhƣ nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, tiến hành công việc một cách thận trọng. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tƣợng; vô tƣ, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỉ mỉ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.
Thứ ba, công khai, dân chủ. Nguyên tắc công khai đƣợc thể hiện cụ thể nhƣ: tiếp xúc công khai với 8 các đối tƣợng liên quan, công bố công khai kết luận kiểm tra. Phạm vi và hình thức công khai phải phù hợp với yêu cầu về đảm bảo giữ bí mật quốc gia, lợi ích của Nhà nƣớc, đảm bảo hiệu quả kiểm tra. Thực hiện nguyên tắc dân chủ đòi hỏi coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của các đối tƣợng liên quan, tạo điều kiện cho đối tƣợng kiểm tra đƣợc trình bày ý kiến của mình.
Thứ tƣ, bảo vệ bí mật. Trong quá trình kiểm tra, ngƣời làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp và bí mật quốc gia. Nếu để lộ cho những đối tƣợng không đƣợc phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp. Do vậy, họ chỉ đƣợc phép báo cáo cho những ngƣời có thẩm quyền đƣợc biết.
Thứ năm, nguyên tắc hiệu quả. Thực hiện nguyên tắc hiệu quả đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đƣợc mục đích của công tác kiểm tra, nghĩa là nó phải có tác dụng đề phòng, phát hiện, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm về thuế; phải đảm bảo giúp các đối tƣợng kiểm tra thực hiện đúng các quy định của pháp luật thuế, tránh thất thoát tiền thuế của nhà nƣớc. * Vai trò của kiểm tra thuế Một là, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật thuế: Qua kiểm tra thuế sẽ phát hiện ra trong pháp luật thuế hiện nay có những điểm nào còn bất cập, gây khó khăn cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuế cũng nhƣ gây khó khăn cho cán bộ thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. Từ đó, cán bộ kiểm tra thuế có thể đƣa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế cho phù hợp với thực tế.