Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại các chi cục thuế; Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế huyện An Lão, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2015; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế huyện An Lão, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CÁC CHI CỤC THUẾ 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu thuế 1. Một số khái niệm cơ bản về thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể 1.
Khái quát chung về thuế a. Khái niệm về thuế Cho đến nay, trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Nhìn chung, các quan niệm của các nhà kinh tế đưa ra từ cách nhìn nhận thuế ở những khía cạnh khác nhau, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. - Theo các nhà kinh điển C.
Mác, Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của những người công dân của nhà nước, đó là thuế má. "Thuế là cái vú sữa của Chính phủ" [9, tr. - Theo các nhà kinh tế học: Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh là Crisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi dùng về hàng hóa, dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản. Một định nghĩa khác tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn Economics của hai nhà kinh tế học người Mỹ: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật".
- Ở nước ta, thuế có thể được hiểu như sau: 7 Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Vai trò của thuế Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của thuế thể hiện trên các khía cạnh sau: - Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực vật chất của nhà nước - Để huy động nguồn lực vật chất, nhà nước có thể sử dụng các hình thức khác nhau như: phát hành tiền, phát hành trái phiếu, bán một phần tài sản quốc gia, thuế,.Trong đó, việc phát hành thêm tiền là cách thức đơn giản nhất nhưng phát hành tiền để chi tiêu thiếu cơ sở vật chất đảm bảo sẽ dẫn đến lạm phát đưa nền kinh tế đến bờ vực thẳm và như vậy càng làm khó khăn cho NSNN; phát hành trái phiếu để vay vừa phải chịu những ràng buộc về kinh tế - chính trị từ phía người cho vay vừa phải tìm nguồn để trả cả gốc và lãi; bán tài sản quốc gia thì tài sản quốc gia có hạn. - Do đó, nói chung ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển để huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước vai trò quan trọng thuộc về thuế.
Sử dụng công cụ thuế có những ưu điểm sau: - Thuế có phạm vi thu rộng nên nhà nước có điều kiện để thông qua thuế thực hiện công bằng trong việc phân bố gánh nặng các khoản chi tiêu công cộng. - Nguồn thu từ thuế đảm bảo tập trung nhanh chóng, thường xuyên và ổn định. - Thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng bức với kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến hiệu quả kinh doanh. 8 Từ những lý do trên mà ở nước ta luôn coi thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN.
Tuy nhiên, không phải để tạo ra nguồn thu chủ yếu của NSNN thì tăng thuế bằng mọi giá. Nguồn thu của NSNN chỉ có thể gia tăng khi và chỉ khi nền kinh tế có sự tăng trưởng và đạt năng suất, hiệu quả cao. - Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước sử dụng thuế để điều chỉnh những vấn đề sau: + Điều chỉnh chu kỳ kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển theo chu kỳ là điều khó tránh khỏi.
Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, nhà nước cần sử dụng thuế để điều chỉnh quá trình đó. Trong những năm khủng hoảng và suy thoái kinh tế, nhà nước có thể hạ thấp mức thuế tạo điều kiện thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư, mở rộng sản xuất. Điều đó có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng. Ngược lại, trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá mức có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đã đề ra.
+ Điều chỉnh cơ cấu kinh tế: Trong khi áp dụng các chế độ thuế phân biệt đối với từng ngành khác nhau nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển các ngành quan trọng, then chốt của nền kinh tế hoặc san bằng tốc độ phát triển giữa chúng. + Điều chỉnh tích lũy tư bản: Một mặt, sản xuất chiếm hữu và tư bản hóa lợi nhuận là mục đích cơ bản của nền kinh tế thị trường, nhà nước cần phải sử dụng thuế để điều chỉnh sự tích lũy đó cho phù hợp với lợi ích kinh tế của các chủ thể và lợi ích xã hội; mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế luôn đòi hỏi phải tăng nhanh vốn đầu tư cơ bản. Để phát triển nền kinh tế, nhà nước phải khuyến khích tích lũy và tích tụ trong các doanh nghiệp để tạo nguồn vốn đầu tư. Việc thay đổi 9 chính sách thuế có ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tích lũy tư bản, do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế.
+ Điều tiết việc làm và thất nghiệp: Khi nền kinh tế có mức thất nghiệp cao cần cắt giảm thuế để kích cầu và việc làm. Trong thời kỳ kinh tế bị lạm phát thì cùng với việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ thuế được gia tăng để giảm cầu và hạn chế gia tăng. + Thực hiện việc phân phối công bằng, hợp lý nguồn thu nhập nhận được từ nền kinh tế thị trường. + Thuế góp phần thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Phân loại thuế Có nhiều cách phân loại thuế căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, có thể kể đến một số cách phân loại sau: Căn cứ vào phương thức đánh thuế Các hình thức thuế suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế. Tuy nhiên, tùy thuộc vào phương thức đánh thuế mà người ta chia hệ thống thuế thành 2 loại là: thuế trực thu và thuế gián thu. - Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế như thuế thu nhập của người có thu nhập cao, thuế thu nhập DN, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất,. Đặc điểm của loại thuế này là đối tượng nộp thuế cũng chính là đối tượng chịu thuế, ở đây cơ hội và khả năng chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác chịu là khó khăn.
- Thuế gián thu: là loại thuế không đánh một cách trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ như thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK,. Đặc điểm của loại thuế này là người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất, ở đây có sự chuyển dịch gánh nặng thuế. 10 Căn cứ vào cơ sở đánh thuế Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế đánh trên cái gì. Dựa trên cơ sở đánh thuế, hệ thống thuế được chia thành: thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản.
- Thuế thu nhập: là thuế đánh vào thu nhập kiếm được. Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn như thu nhập từ lao động, từ SXKD,.Thu nhập được biểu hiện dưới nhiều dạng nên thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế lợi nhuận chuyển ra nước ngoài,. - Thuế tiêu dùng: là thuế đánh vào phần thu nhập được mang ra tiêu dùng trong hiện tại như thuế doanh thu, thuế GTGT, thuế TTĐB,. - Thuế tài sản: là các sắc thuế dánh vào giá trị tài sản.
Tài sản có nhiều loại như TSCĐ, tài sản chính. Thuế đánh trên giá trị TSCĐ gọi là thuế bất động sản, thuế đánh trên tài sản chính gọi là thuế động sản. Hộ kinh doanh cá thể và vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế a. Quan niệm về hộ kinh doanh cá thể Cụm từ “hộ kinh doanh” được bắt nguồn từ khái niệm “hộ gia đình” theo quy định tại điều 106 của Bộ luật Dân sự từ khi Bộ luật này được ban hành.
Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Chủ hộ kinh doanh là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Trên cơ sở đó, điều 49 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký DN quy định “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. 11 Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là các cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn khi tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh.