Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Khái quát chung về trật tự đô thị và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 1. Khái niệm về đô thị và đặc điểm đô thị Theo nghĩa Hán Việt, đô thị là từ ghép của 2 chữ “đô” và “thị”. Thị có nghĩa là “chợ”, “đô” có nghĩa là sự đông đúc, chợ thì phải luôn đông, phải tập trung con người và vật dụng trao đổi buôn bán.
Đô thị được hình dung là nơi tập trung khu dân cư sinh sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp. Theo giáo trình “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, đô thị Việt Nam được hiểu là: “Một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị” (43, tr 9). Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2007) có giải thích: “Đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể có cả nông nghiệp, là thành phố hoặc thị trấn, thị tứ”. Như vậy, đô thị được hiểu là khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, những trung tâm phát triển chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia, một vùng, một địa phương.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị thì: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” (38). Khái niệm về đô thị 9 e Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là phi nông nghiệp sống và làm việc theo kiểu thành thị. Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình.
Song phần nhiều đều thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản: Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2.000 người sống tập trung, mật độ trên 3.000 người/km2 trong phạm vi nội thị. Cơ cấu lao động: Trên 65% lao động là phi nông nghiệp. Đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có số dân cư từ 2.000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp. Với quan niệm về đô thị như trên, đô thị có các đặc điểm sau đây: - Thứ nhất, đô thị được tổ chức như một cơ thể sống: Đặc điểm này xuất phát từ tính cấu trúc hoàn chỉnh và đồng bộ của từng bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể đô thị và tính chất luôn vận động của nó.
Hệ thống chức năng vận động của đô thị là toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế - xã hội trên cơ sở hạ tầng đô thị. Giống như một cơ sống, bất kỳ một sự “trục trặc” nào trong hệ thống cấu trúc cũng sẽ dẫn tới những rối loạn trong các hoạt động đô thị. Vì vậy, sự cân bằng, ổn định, bền vững là mục tiêu số 1 của đô thị. - Thứ hai, đô thị luôn vận động và phát triển: Đặc điểm này vừa biểu hiện tính “sống” của đô thị, đồng thời biểu hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị với xã hội loài người.
Sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt là gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Xã hội loài người luôn phát 10 e triển, kinh tế hàng hóa luôn phát triển do đó đô thị luôn phát triển. Đặc điểm này cũng cho thấy sự hình thành, tồn tại phát triển của đô thị chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội. Đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường.
Tác động này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển ổn định, bền vững của đô thị. - Thứ ba, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được: Mặc dù các đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhưng con người có thể tham gia và điều khiển được sự phát triển đó. Nói cách khác, đô thị được coi là một hệ điều khiển, tuy nhiên là một hệ mở, một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh. Con người chỉ có thể điều chỉnh được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó.
Con người có thể định hướng, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị, chứ không thể “bắt” đô thị vận động theo ý chủ quan trái với quy luật của mình. Khái niệm về trật tự đô thị và các tiêu chí đánh giá trật tự đô thị - Khái niệm về trật tự đô thị: là sự điều chỉnh, sắp xếp các quan hệ xã hội đô thị hoạt động theo một quy tắc, quy chuẩn phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo cho môi trường dân sự đô thị được phát triển bền vững theo những nguyên tắc nhất định. - Các tiêu chí đánh giá trật tự đô thị Trật tự đô thị là việc Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đúng quy tắc, quy chuẩn của pháp luật hiện hành, vì vậy để đánh giá đô thị đó có trật tự hay không thì căn cứ vào các tiêu chí sau: Thứ nhất, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật ban hành có phù hợp với thực tế hay không, có được mọi người chấp nhận không. Thứ hai, năng lực của chủ thể quản lý.
11 e Thứ ba, căn cứ vào quy hoạch tổng thể, sẽ dự đoán được mức độ ổn định của sự phát triển. Thứ tư, căn cứ vào nhận thức hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của công dân để đánh giá được nơi đó có trật tự hay không. Thứ năm, căn cứ vào mặt bằng trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên trách. Thứ sáu, căn cứ vào cơ sở vật chất, phương tiện của cơ quan tổ chức thực hiện việc quản lý về trật tự đô thị.
Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 1. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [45]. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa “lẩn” vào trong khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý vi phạm hành chính” được quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 vi phạm hành chính được xác định như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” [32]. 12 e Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, xử phạt vi phạm hành chính được hiểu là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Có thể xác định: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt (phạt tiền, tịch thu…), biện pháp khắc phục hậu quả (buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc khắc phục lại tình trạng ban đầu do hành vi vi phạm hành chính gây ra…) đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật [32]. Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời. Khi đề cập đến pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thì một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt hành chính.
Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm hành chính được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành vi vi phạm hành chính mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Xác định được đúng hành vi vi phạm hành chính, tức là xác định đúng cơ sở xử phạt, thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà 13 e nước bị xâm hại, góp phần giáo dục, người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được sự tuỳ tiện trong xử phạt hành chính.