Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm di sản Khái niệm di sản là một thuật ngữ khoa học được sử dụng phổ biến, có một lịch sử phát triển khá lâu dài, bắt đầu được biết đến qua cuộc cách mạng tư sản Pháp. Có thể nói rằng, chính việc tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc và nhà thờ, sau đó tập hợp chúng thành các tài sản quốc gia trong thời gian cách mạng tư sản đã sản sinh ra khái niệm về di sản. Để tránh sự phá hoại của các tài sản này, nhà nước đã cho tiến hành kiểm kê, tiến hành mô tả, sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm bảo tồn và khôi phục di sản của quốc gia. Như vậy, di sản lúc đó được mọi người hiểu là “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia”.
Khái niệm di sản được hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Hay, chỉ chung cho các tài sản văn hóa như văn học dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Luật Di sản Văn hóa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xác định di sản là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [55, tr. Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, có nghĩa là nó thay đổi theo thời gian và không gian.
Giờ đây, khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn lọc quá khứ, nhất là đối với các di sản của cộng đồng (như đối với trường hợp 18 lễ hội). Rõ ràng là, không phải bất kỳ quá khứ nào cũng có thể trở thành di sản. Chính vì lẽ đó, tác giả luận văn sẽ áp dụng xuyên suốt Luật Di sản văn hóa đã được Quốc hội thông qua làm cơ sở lý luận chúng nhất cho toàn bộ nghiên cứu luận văn.2 Khái niệm lễ hội truyền thống Theo thống kê của tác giả, lễ hội truyền thống cũng có nhiều khái niệm khác nhau. Khái niệm “truyền thống” và “cổ truyền” cũng có những cách lý luận khác nhau, nhưng ý nghĩa của nó gần như tương đồng với nhau.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hồng, “cổ truyền là trao lại cái vốn có từ xưa hoặc cái giá trị từ xưa truyền lại cho con cháu và thường nhấn mạnh đến khía cạnh bất biến của hiện tượng văn hóa; truyền thống, một mặt nhấn mạnh đến việc trao lại cái hạt nhân, mặt khác còn nhấn mạnh đến tính chất vượt trội trong kế thừa hợp lý cái mới trong đời sống của xã hội đương đại”. Còn theo quan điểm của GS. Ngô Đức Thịnh, lễ hội truyền thống là: “một hình thức diễn xướng dân gian bao gồm nhiều hình thức diễn xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ với nhau tạo thành tổng thể diễn xướng lễ hội; là một hình thức diễn xướng tâm linh không còn là thế giới hiện thực mà đã vươn lên thế giới biểu tượng linh thiêng. Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng, khác với thời gian thường ngày; diễn xướng lễ hội truyền đạt tới hiệu quả xã hội nhiều mặt, nó tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng, nó là niềm cộng cảm và cộng mệnh của cộng đồng thỏa mãn ước vọng vươn tới sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên, với cội nguồn” [81, tr.
Theo quan điểm chủ quan của tác giả thì, lễ hội truyền thống hay cổ truyền vẫn là một sự kế thừa, bảo lưu truyền thống của người Việt. Những sáng tạo của cư dân người Việt trong các lễ hội ở đây (lễ hội Nghinh Ông, lễ 19 hội Bà Chúa Xứ…) đã làm cho kho tàng lễ hội và văn hóa của người Việt trở nên phong phú và đa dạng hơn. Bên cạnh đó, tác giả cũng xác định rằng lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó. Các lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa tiến hành theo định kỳ, mang tính cộng đồng (thường là cộng đồng làng).
Ngoài ra, tác giả luận văn muốn nhấn mạnh lễ hội là một di sản văn hóa, một sản phẩm của lịch sử, tồn tại và vận hành trong suốt quá trình lịch sử đến hiện tại.3 Khái niệm quản lý Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng. Chúng ta cũng thường nói đến quản lý với tư cách là một khoa học, trong đó quản lý: Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội. Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với các hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt. Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài nước đã có những giải thích khác nhau về quản lý. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như: Taylor cho rằng “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”; Fayol định 20 nghĩa “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy”; Peter F. Druker nói về bản chất của quản lý “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của quản lý không nằm ở nhận thức mà là ở hành động, kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả, quyền uy duy nhất của nó là thành tích” (trích lại từ sách: Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945 đến nay của tác giả Bùi Hoài Sơn, [72]). Tóm lại, quản lý là quan niệm tổ chức không phải kỹ thuật, là một quá trình chứ không phải hoạt động, là tự do chứ không phải khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ không phải tiềm tàng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng tiến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại; là đơn giản chứ không phải phức tạp v.v… Mọi hoạt động quản lý đều phải do năm yếu tố cơ bản cấu thành đó là: chủ thể quản lý - do ai quản lý? khách thể quản lý - quản lý cái gì? mục đích quản lý - quản lý vì cái gì? môi trường và điều kiện tổ chức - quản lý trong hoàn cảnh nào? biện pháp quản lý - quản lý bằng cách nào? Để tiến hành công việc quản lý, chúng ta phải dựa vào các phương tiện và chính sách về pháp luật, tài chính, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực… để đạt được những mục tiêu quản lý đề ra.
Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân; thứ hai, điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên; thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân và giá trị tập thể. 21 Đối với quản lý lễ hội, khái niệm này được hiểu trên hai bình diện: 1. Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội Đó là việc nghiên cứu xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật có liên quan, và các can thiệp bằng hệ thống công cụ cơ bản này của cơ quan hữu trách nhằm các mục tiêu phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo các lợi ích văn hóa của công dân, cộng đồng và quốc gia dân tộc. Quản lý nói chung, quản lý lễ hội nói riêng còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân…).
Điều 54 Luật Di sản quy định Nội dung quản lý nhà nước về di sản bao gồm: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá; 3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; 4.
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; 5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 22 6. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc; 8.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về Di sản Văn hóa [55, 56].