Tổng quan luận án

Đề tài "Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Đỗ Thị Nhung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Hồng Lý, bảo vệ năm 2022 tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, thuộc chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9.40).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hát Xoan Phú Thọ là loại hình dân ca nghi lễ phong tục gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Ngày 24/11/2011, Hát Xoan được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; đến ngày 08/12/2017, di sản này được chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sau khi được vinh danh, diện mạo Hát Xoan có nhiều chuyển đổi sâu sắc dưới tác động của các chính sách quản lý nhà nước và quá trình di sản hóa.

Thực tế điền dã cho thấy xuất hiện mâu thuẫn giữa quy chuẩn hành chính và nhu cầu thực hành của nghệ nhân: người thực hành phải tuân thủ nghiêm ngặt 31 bài bản cổ, mặc trang phục theo mẫu thiết kế mới, đi chân đất khi biểu diễn, trong khi nhu cầu tự đặt lời mới (về bầu cử, phòng chống dịch bệnh) lại bị hạn chế, dẫn đến hiện tượng nghệ nhân phải "hát trộm". Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là làm rõ quá trình di sản hóa Hát Xoan từ khâu lập hồ sơ đến giai đoạn hậu ghi danh, xem xét sự tác động của quyền lực quản lý nhà nước, nguy cơ ngoài lề hóa cộng đồng chủ thể và sự biến đổi của Hát Xoan như một thực thể văn hóa sống trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là nhận diện diện mạo Hát Xoan Phú Thọ sau khi được UNESCO ghi danh qua hai giai đoạn (bảo vệ khẩn cấp từ năm 2011 và đại diện nhân loại từ năm 2017), từ thực hành bài bản, ký âm, truyền dạy đến các hoạt động văn hóa, kinh tế, giáo dục, du lịch; qua đó phân tích các động thái kinh tế, chính trị, văn hóa chi phối di sản.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu vấn đề di sản hóa các di sản văn hóa, tập trung vào tính chính trị của di sản.
  2. Nghiên cứu bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam từ các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa.
  3. Tìm hiểu quá trình Hát Xoan Phú Thọ được lựa chọn và xây dựng hồ sơ ghi danh di sản của UNESCO.
  4. Nghiên cứu những diễn biến sau ghi danh của Hát Xoan Phú Thọ, quá trình bảo vệ khẩn cấp và bàn luận vấn đề di sản hóa Hát Xoan hiện nay.

Hai câu hỏi nghiên cứu trung tâm được đặt ra:

  1. Quá trình di sản hóa Hát Xoan Phú Thọ diễn ra như thế nào?
  2. Những động thái nào chi phối quá trình di sản hóa Hát Xoan và những vấn đề gì đang đặt ra với Hát Xoan hiện nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thực hành Hát Xoan diễn ra tại tỉnh Phú Thọ sau quá trình ghi danh của UNESCO, đặt trong sự tham chiếu với các thực hành Hát Xoan trước đó.
  • Phạm vi không gian: Tập trung tại 4 làng Xoan cổ (An Thái, Phù Đức, Kim Đái, Thét thuộc thành phố Việt Trì), mở rộng đến một số câu lạc bộ Xoan mới, trường học, công sở và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2011 (khi được UNESCO ghi danh khẩn cấp) đến năm 2021; thời gian tác giả thực hiện khảo sát điền dã thực tế là từ năm 2016 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu theo 3 nhóm chủ đề:

1. Nhóm nghiên cứu về di sản hóa và tính chính trị của di sản

  • Lý thuyết quốc tế: Khái niệm "di sản hóa" (heritagization) khởi nguồn từ Robert Hewison (1987), sau đó được Regina Bendix (2009) phân tích dưới góc độ nhân học văn hóa gắn với sự chọn lọc ký ức, tính chân thực và vốn biểu tượng; Rosemary Coombe và Joseph Turcotte (2012) cảnh báo về chế độ quyền lực mới nảy sinh từ việc kiểm kê, quản lý di sản đối với cộng đồng bản địa.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Oscar Salemink (2001, 2012, 2014, 2015) phân tích quá trình di sản hóa tại Việt Nam như một tiến trình chính trị hóa và "chiếm đoạt" quyền sở hữu văn hóa của cộng đồng để biến thành tài sản quốc gia; Lê Hồng Lý và cộng sự (2012, 2014, 2018) chỉ ra nguy cơ ngoài lề hóa cộng đồng chủ thể, hành chính hóa và sân khấu hóa di sản; Phan Phương Anh khảo sát sự can thiệp hành chính làm suy giảm tính thiêng tại lễ hội Đền Hùng; Lê Thị Ngà (2015) nghiên cứu tại làng cổ Đường Lâm; Đào Xuân Quý (2016) khảo sát làng Cổ Tích hậu di sản; Nguyễn Thị Nhung (2017) phân tích sự can thiệp của nhà nước tại lễ hội chùa Hương; Lương Hồng Quang (2013, 2015) bàn về sự cân bằng lợi ích các bên trong quản lý lễ hội.

2. Nhóm nghiên cứu về nghệ thuật và diễn xướng Hát Xoan

  • Nguồn gốc và tên gọi Hát Xoan gắn với thời đại Hùng Vương và mùa xuân được phân tích bởi Nguyễn Khắc Xương (1978, 2003, 2008), Đức Bằng (1982), Tú Ngọc (1981, 1997), Phạm Phúc Minh, Phạm Bá Khiêm (2005). Giả thuyết nguồn gốc thời Lý - Lê được Trần Thị Kim Anh (2010) khảo cứu qua chữ Nôm Lễ Liên/Lý Liên.
  • Cấu trúc âm nhạc, bài bản (14 quả cách, các giọng vặt), thang âm không bán âm, hình thức hát xướng xô, đệm láy được khảo sát bởi Tú Ngọc (1981, 1997), Nguyễn Lộc (1974, 1975), Phạm Trọng Toàn (2001, 2006), Trần Văn Thục (2009), Phạm Thị Thiên Nga (2012), Dương Huy Thiện (2015).

3. Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và di sản hóa Hát Xoan

  • Hướng tiếp cận bảo tồn truyền thống được đề xuất bởi Tú Ngọc (1994) với 4 giải pháp (lễ hội hóa, phổ cập hóa, khuyến khích sáng tác mới, kết hợp du lịch) và Cao Khắc Thùy (2011), Cao Hồng Phương (2011).
  • Tiếp cận phê phán quá trình di sản hóa Hát Xoan được khởi xướng bởi Nguyễn Thị Phương Châm (2017) và nhóm nghiên cứu Lê Hồng Lý, Hoàng Cầm, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức (2018), cảnh báo nguy cơ hành chính hóa việc truyền dạy, áp đặt mẫu trang phục, thiên lệch đầu tư ngân sách dẫn đến nguy cơ mai một các loại hình dân ca khác trong tỉnh.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả cấu trúc âm nhạc dân gian, lịch sử thể loại hoặc đánh giá chung về công tác bảo tồn. Luận án đi sâu giải quyết khoảng trống: Phân tích toàn diện quá trình di sản hóa Hát Xoan từ khâu lập hồ sơ đến giai đoạn hậu ghi danh; khảo sát sự giằng co quyền lực giữa nhà nước và cộng đồng; nhận diện xu hướng phân hóa thành hai tiểu loại "Xoan tín ngưỡng" và "Xoan văn nghệ"; từ đó đề xuất khung tiếp cận "di sản văn hóa sống" nhằm bảo vệ quyền thực hành của cộng đồng chủ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án vận dụng các khái niệm và lý thuyết nền tảng:

  • Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể: Căn cứ Công ước 2003 của UNESCO và Luật Di sản văn hóa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhìn nhận di sản là quá trình tái tạo văn hóa không ngừng gắn với bản sắc cộng đồng.
  • Lý thuyết Di sản hóa (Heritagization): Dựa trên luận điểm của Robert Hewison (1987), Regina Bendix (2009) và đặc biệt là Oscar Salemink (2012, 2014), xem di sản hóa là quá trình thể chế hóa, chọn lọc và gắn danh hiệu di sản, biến thực hành của cộng đồng thành tài sản quản lý của nhà nước.
  • Khái niệm Diễn xướng (Performance): Sử dụng định nghĩa của Richard Bauman (1975/2005), xem diễn xướng là một sự kiện nghệ thuật tổng hợp gồm người biểu diễn, hình thức nghệ thuật, thính giả và bối cảnh.
  • Quan điểm Quản lý di sản Bảo tồn - Phát triển: Khung lý thuyết của G.J. Ashworth (1997) kết hợp quan điểm của Laurajane Smith và Natsuko Akagawa (2008), chuyển trọng tâm từ "tính nguyên gốc tĩnh" sang việc đảm bảo đời sống sinh động của di sản trong xã hội đương đại.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án triển khai theo định hướng nghiên cứu định tính thuần túy:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh Phú Thọ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ; văn bản công ước của UNESCO; các quyết định, thông tư, công văn quản lý di sản của địa phương; các công trình điền dã lịch sử các đợt 1954, 1971–1973, 1978, 1998–2006.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học:
    • Quan sát tham dự: Tham dự các buổi diễn xướng Xoan tại 4 làng Xoan cổ trong dịp hội xuân, Giỗ Tổ Hùng Vương, các lớp truyền dạy, hoạt động câu lạc bộ, biểu diễn tại trường học, công sở và các điểm du lịch phục vụ du khách.
    • Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn nghệ nhân 4 làng Xoan cổ, thành viên câu lạc bộ dân ca, cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cán bộ Phòng Di sản, cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo xã, giáo viên âm nhạc, giáo viên phụ trách Đội, học sinh các cấp, đạo diễn chương trình nghệ thuật và chuyên gia ký âm. Tất cả tên thông tín viên được mã hóa/thay đổi để bảo đảm tính bảo mật học thuật.
  • Tiếp cận dân tộc học âm nhạc (Ethnomusicology) và nhạc học: Phân tích cấu trúc bài bản, thang âm, tiết tấu, cách đệm láy, kỹ thuật xướng xô và nghệ thuật múa nghi lễ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương trong văn bản Trọng tâm nội dung và phát hiện chính
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và đối tượng nghiên cứu Tổng thuật 3 nhóm tài liệu; xác lập khung lý thuyết di sản hóa và diễn xướng; miêu tả tổ chức phường Xoan, tục kết nước nghĩa, giữ cửa đình và 3 chặng diễn xướng.
Chương 2 Bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam và quá trình ghi danh di sản Hát Xoan Phú Thọ Phân tích bối cảnh chính trị - văn hóa; quá trình điều tra, chọn lọc 31 bài bản cổ; mở rộng quyền sở hữu sang nhà nước để xây dựng hồ sơ trình UNESCO.
Chương 3 Diện mạo Hát Xoan Phú Thọ sau ghi danh di sản Khảo sát kiểm kê, ký âm, phong trào phổ cập tại trường học, công sở, du lịch; phân tích sự chuyển dịch không gian và phương thức truyền dạy hành chính hóa.
Chương 4 Di sản hóa Hát Xoan: những vấn đề bàn luận Nhận diện 4 nguy cơ: nhất thể hóa, bảo tàng hóa, phổ quát hóa và giá trị hóa; chỉ ra sự phân hóa thành 2 tiểu loại "Xoan tín ngưỡng" và "Xoan văn nghệ".

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và đối tượng nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo tả đối tượng nghiên cứu:

  • Không gian văn hóa và nguồn gốc: Hát Xoan là loại hình dân ca nghi lễ phong tục thuộc vùng đất cổ Phong Châu, gắn liền với tín ngưỡng thờ Hùng Vương. Lõi không gian gồm 4 làng Xoan cổ: An Thái, Thét, Phù Đức, Kim Đái (thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh xưa, nay thuộc thành phố Việt Trì), giữ tục hát tại 30 cửa đình, đền thuộc 18 xã thuộc Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
  • Tổ chức phường Xoan và lệ tục: Tổ chức phường Xoan mang tính tự nguyện và thời vụ theo mùa lễ hội mùa xuân, đứng đầu là Trùm phường quản lý sách bài bản, chỉ đạo chuyên môn; đào và kép thực hành theo lề lối. Quan hệ giữa phường Xoan và các làng sở tại là tục "nước nghĩa" (dân làng là anh, họ Xoan là em, tuyệt đối cấm kết hôn dân - họ), gắn với tục giữ cửa đình và thù lao ngô gạo cầu đinh tại Đức Bác.
  • Cấu trúc diễn xướng hoàn chỉnh: Gồm 3 chặng hát chính:
    1. Hát thờ: Khai cuộc bằng hát Nhập tịch, nối tiếp 4 giọng lề lối: Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang, Đóng đám.
    2. Hát quả cách: Trình diễn 14 quả cách (Kiều Dương cách, Nhàn ngâm cách, Tràng mai cách, Xoan thời cách, Hạ thời cách, Thu thời cách, Đông thời cách, Tứ mùa cách, Ngư tiều canh mục cách, Đối rẫy cách, Hồi liên cách, Tứ dân cách, Chơi dân cách...) do kép lĩnh xướng, 4 đào múa phụ họa.
    3. Hát hội (giọng vặt): Chuyển sang giọng nhà tơ ("hát chơi bời"), tiếp nối các tiết mục Bỏ bộ, Chơi bợm/Bợm gái, Đúm, Xin huê Đố chữ, Cài huê - Mó cá và kết thúc bằng Chào giã.

Chương 2: Bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam và quá trình ghi danh di sản Hát Xoan Phú Thọ

Chương 2 luận giải tiến trình đưa Hát Xoan vào danh sách di sản thế giới:

  • Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa: Sự gia tăng số lượng di sản được công nhận tạo động lực phát triển kinh tế du lịch và khẳng định bản sắc địa phương, thúc đẩy chính quyền tỉnh Phú Thọ xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO.
  • Quá trình lập hồ sơ và chọn lọc: Dựa trên các đợt điền dã lịch sử (1954, 1971–1973, 1978, 1998–2006), cơ quan quản lý tiến hành quy chuẩn hóa, lựa chọn 31 bài bản được coi là "cổ", "truyền thống" và "xác thực" để đưa vào hồ sơ khoa học nhằm đáp ứng các tiêu chí khắt khe của UNESCO năm 2011.
  • Sự chuyển dịch quyền sở hữu: Tiến trình lập hồ sơ làm phát sinh sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước vào di sản, từng bước chuyển giao quyền kiểm soát và định đoạt từ cộng đồng 4 họ Xoan sang các thiết chế hành chính.

Chương 3: Diện mạo Hát Xoan Phú Thọ sau ghi danh di sản

Chương 3 ghi nhận diện mạo thực tế của Hát Xoan giai đoạn 2011–2021:

  • Kiểm kê, ký âm và sáng tác: Nhà nước tiến hành kiểm kê tư liệu hóa toàn diện, tổ chức ký âm chuẩn mực. Xuất hiện hoạt động đặt lời mới trên làn điệu cổ nhưng bị giới hạn trong thực hành chính thống.
  • Mở rộng không gian và mạng lưới truyền dạy:
    • Tại 4 làng Xoan cổ: Hoạt động truyền dạy được hỗ trợ kinh phí nhưng gắn liền với thủ tục hành chính, danh sách điểm danh và kiểm duyệt bài bản.
    • Tại cộng đồng mới: Thành lập hàng loạt câu lạc bộ Hát Xoan và Dân ca Phú Thọ trên toàn tỉnh; đưa Hát Xoan vào chương trình giáo dục phổ thông và các lớp tập huấn bắt buộc cho cán bộ, giáo viên.
    • Tại không gian du lịch: Xoan được đưa lên sân khấu biểu diễn phục vụ khách tham quan tại các di tích và lễ hội Đền Hùng.

Chương 4: Di sản hóa Hát Xoan: những vấn đề bàn luận

Chương 4 tập trung thảo luận các hệ quả văn hóa - xã hội:

  • Nguy cơ nhất thể hóa và bảo tàng hóa: Việc cố định hóa 31 bài bản và đồng nhất hóa trang phục làm triệt tiêu tính biến dị dân gian, biến di sản sống thành dạng hình thức "bảo tàng hóa" khô cứng, hạn chế quyền sáng tạo tại chỗ của nghệ nhân.
  • Sự phổ quát hóa và bất cân đối chính sách: Việc phổ cập hóa Hát Xoan trên phạm vi toàn tỉnh dẫn đến hiện tượng "Xoan hóa" đời sống văn nghệ, làm suy giảm sự quan tâm và nguồn lực đầu tư đối với các loại hình dân ca bản địa khác tại địa phương.
  • Sự phân hóa thành hai tiểu loại di sản:
    • Xoan tín ngưỡng: Diễn xướng trong không gian đình, miếu gắn với nghi lễ tế thần, do cộng đồng làng duy trì theo lề tục truyền thống.
    • Xoan văn nghệ: Biểu diễn trên sân khấu, trường học, công sở, phục vụ du lịch và các sự kiện chính trị, tuân theo kịch bản và yêu cầu dàn dựng bên ngoài.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Khẳng định Hát Xoan là một thực hành văn hóa liên tục được kiến tạo trong lịch sử và hiện tại, chịu sự tương tác phức tạp của các nhu cầu tâm linh, kinh tế, chính trị và xã hội.
  • Phát hiện xu hướng phân hóa cấu trúc di sản thành hai tiểu loại rõ rệt hậu ghi danh: Xoan tín ngưỡng (gắn với không gian thiêng và nhu cầu tâm linh cộng đồng) và Xoan văn nghệ (gắn với không gian sân khấu hóa và chức năng phục vụ bên ngoài), mỗi tiểu loại có nguyên tắc và phương thức thực hành riêng biệt.
  • Vận dụng và phát triển khung lý thuyết "di sản văn hóa sống", chứng minh rằng việc áp đặt quy chuẩn hành chính cứng nhắc sẽ dẫn tới các phản ứng ngầm từ nghệ nhân (hiện tượng đặt lời mới và hát không chính thức).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Nhận diện toàn diện các nguy cơ nảy sinh từ quá trình di sản hóa diện rộng: nhất thể hóa bài bản, bảo tàng hóa diễn xướng, phổ quát hóa cơ học và hành chính hóa công tác nghệ nhân.
  • Cung cấp dữ liệu thực địa (2016–2021) về mối quan hệ giữa cơ quan quản lý văn hóa và nghệ nhân 4 làng Xoan gốc, phản ánh chân thực các bất cập trong công tác bảo tồn khẩn cấp và chuyển đổi danh hiệu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Chuyển đổi mô hình quản lý từ "bảo tồn áp đặt hành chính" sang "quản lý bảo tồn - phát triển", tôn trọng đời sống tự thân của di sản.
  • Trao quyền chủ thể thực sự cho cộng đồng 4 họ Xoan cổ trong việc lựa chọn bài bản, không gian và hình thức diễn xướng, chấp nhận sự tiếp biến và sáng tác lời mới phục vụ đời sống đương đại.
  • Cân đối chính sách bảo tồn văn hóa của địa phương, tránh tập trung đơn nhất nguồn lực cho Hát Xoan mà làm mai một các di sản phi vật thể khác trên địa bàn tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực địa trong giai đoạn 2016–2021 tại tỉnh Phú Thọ, tập trung chủ yếu vào 4 họ Xoan cổ vùng Việt Trì và một số câu lạc bộ, trường học trọng điểm; chưa khảo sát sâu toàn bộ 30 cửa đình/đền liên quan tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình di sản hóa của Hát Xoan với các loại hình dân ca nghi lễ khác đã được UNESCO ghi danh (như Ca trù, Quan họ Bắc Ninh); theo dõi sự biến đổi lâu dài của tiểu loại "Xoan văn nghệ" trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch di sản.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Quản lý văn hóa: Cung cấp khung phân tích thực tế về lý thuyết di sản hóa, phương pháp điền dã dân tộc học và tư liệu chi tiết về nghệ thuật diễn xướng dân gian.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa các tỉnh): Cung cấp cơ sở khoa học để điều chỉnh chính sách kiểm kê, xét tặng danh hiệu nghệ nhân, xây dựng đề án bảo tồn di sản phi vật thể hài hòa giữa mục tiêu quảng bá và bảo vệ quyền lợi cộng đồng chủ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Hát Xoan Phú Thọ được UNESCO ghi danh qua những mốc thời gian nào?

Hát Xoan được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 24/11/2011. Sau quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ, ngày 08/12/2017, Hát Xoan chính thức được đưa ra khỏi tình trạng khẩn cấp và ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

2. Không gian lõi của Hát Xoan cổ gồm những làng nào và lưu giữ bao nhiêu bài bản?

Không gian gốc của Hát Xoan gồm 4 làng Xoan cổ: An Thái, Thét, Phù Đức và Kim Đái (trước Cách mạng tháng Tám thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh; nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Bốn làng Xoan này hiện còn lưu giữ được 31 bài bản Hát Xoan cổ.

3. Diễn xướng Hát Xoan truyền thống gồm những chặng nào?

Một cuộc diễn xướng Hát Xoan đầy đủ gồm 3 chặng:

  1. Hát thờ: Bắt đầu bằng hát Nhập tịch và 4 giọng lề lối (Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang, Đóng đám).
  2. Hát quả cách: Gồm 14 quả cách do kép hát dẫn và 4 đào múa phụ họa.
  3. Hát hội (giọng vặt): Gồm hát giọng nhà tơ và các tiết mục giao duyên, hoạt cảnh như Bỏ bộ, Bợm gái, Đúm, Xin huê Đố chữ, Cài huê - Mó cá, kết thúc bằng Chào giã.

4. Tục "kết nước nghĩa" và "giữ cửa đình" trong Hát Xoan có đặc điểm gì đặc biệt?

Tục kết nước nghĩa trong Hát Xoan diễn ra giữa họ Xoan với dân làng sở tại (nơi có đình, đền mời Xoan về hát thờ), trong đó dân làng luôn ở vai "anh", họ Xoan ở vai "em". Quan hệ này mang tính vĩnh viễn và đi kèm điều cấm nghiêm ngặt: người của hai bên dân - họ tuyệt đối không được kết hôn với nhau.

5. Quá trình di sản hóa đã làm phân hóa Hát Xoan thành những tiểu loại nào?

Hậu ghi danh di sản, Hát Xoan hình thành 2 tiểu loại:

  • Xoan tín ngưỡng: Thực hành trong không gian nghi lễ đình, miếu, gắn chặt với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và nhu cầu tâm linh nội bộ của cộng đồng làng.
  • Xoan văn nghệ: Trình diễn trên sân khấu, phục vụ du lịch, trường học và công sở, tuân thủ các kịch bản và sự điều tiết của cơ quan quản lý bên ngoài.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Nhung là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Văn hóa học, làm rõ quá trình di sản hóa Hát Xoan Phú Thọ từ giai đoạn lập hồ sơ bảo vệ khẩn cấp (2011) đến khi chuyển sang danh sách đại diện nhân loại (2017). Tác giả đã chỉ ra sự can thiệp của các thiết chế quản lý nhà nước dẫn đến các hiện tượng nhất thể hóa, bảo tàng hóa và phân hóa Hát Xoan thành hai tiểu loại tín ngưỡng và văn nghệ. Luận án khẳng định giá trị của hướng tiếp cận "di sản văn hóa sống", đề xuất tôn trọng quyền tự quyết và không gian sinh hoạt văn hóa tự nhiên của cộng đồng chủ thể nhằm bảo tồn di sản một cách bền vững.