Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH KẾ VÀ VĂN HÓA SINH KẾ 1. Về sinh kế Sinh kế là vấn đề được nhiều ngành khoa học trên thế giới quan tâm, nghiên cứu từ lâu. Về sau, sinh kế được các nhà nghiên cứu văn hóa từ nhiều chuyên ngành trong nước tiếp nhận và phát triển trong nghiên cứu về khoa học văn hóa ứng dụng, bởi nội hàm của sinh kế có tính thực tiễn cao.
Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, sau đó được Chambers, Conway và những nhà nghiên cứu khác phát triển vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Tiếp tục bổ sung và phát triển các nghiên cứu về sinh kế của Ủy ban Thế giới về Môi trường và phát triển (WCED), Chambers & Conway đã đưa ra khái niệm sinh kế tương đối hoàn chỉnh về sinh kế, bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp [104, tr. Trong tài liệu hướng dẫn khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững (1997), trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của Chambers & Conway và các công trình nghiên cứu trước đó, Ian Scoone và đồng nghiệp đã đưa ra khái niệm và khung phân tích sinh kế bền vững khá đầy đủ với 5 chỉ số đánh giá chính (bối cảnh, điều kiện xu hướng; các nguồn lực sinh kế; thể chế và tổ chức; chiến lược sinh kế; và kết quả sinh kế), trong đó các yếu tố thể chế và tổ chức ảnh hướng quan trọng tới kết quả sinh kế bền vững [109]. Schultz và Lavenda (2001) cho rằng khi nói đến sinh kế là hàm ý con người phải làm gì để có được của cải vật chất như lương thực, quần áo, chỗ ở nhằm duy trì cuộc sống [70, tr.
Trong khi đó Grant Evans, thì nhấn mạnh sinh kế nghiên cứu mặt vật chất của đời sống trong bối cảnh xã hội và văn hóa của nó, 9 đồng thời nghiên cứu cái cách mà các khâu sản xuất phân phối tiêu thụ đã tham gia như thế nào vào toàn bộ cấu trúc của xã hội, sinh kế không chỉ là kinh tế mà còn là văn hóa và phản ánh văn hóa [105]. Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam trong những năm trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra những nhận định về vấn đề sinh kế. Các nghiên cứu đa phần đã chỉ ra hoạt động kinh tế hay sinh kế chính là sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu vật chất để đảm bảo sự sinh tồn của mình, hay sinh kế là những phương thức kiếm sống của cá nhân hay cộng đồng, nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần để duy trì sự phát triển của cá nhân hay cộng đồng đó. Trong Luận án “Biến đổi sinh kế của người Dao di cư tự do tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk” của Đào Thanh Thái [75, tr.
34] đã đưa ra những vấn đề về sinh kế của người Dao tại Cư M’gar, tác giả cũng đã nhận định sinh kế của người Dao tại địa bàn mình nghiên cứu là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó. Trên cơ sở khung lý thuyết về sinh kế và biến đổi sinh kế của DFID, Trần Văn Bình đã đưa ra một quan niệm và hướng nghiên cứu tương đối toàn diện về sinh kế và biến đổi sinh kế. Tác giả đã nhấn mạnh đến việc kết hợp các hoạt động trong quá trình sử dụng các nguồn lực để đảm bảo cuộc sống (con người gồm khả năng, kỹ năng cá nhân; nguồn lực tự nhiên, tài chính và các thiết bị và các mối quan hệ, trợ giúp của xã hội) [13, tr.
Nội dung chính của khung phân tích sinh kế bền vững được nhà nghiên cứu Trần Văn Bình tóm tắt thành bốn điểm chính sau: Thứ nhất, khung phân tích sinh kế bền vững đề cập đến nhiều yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế đó là: 1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; 2) Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; 3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; 4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; 5) Bối cảnh 10 sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ. Thứ hai, khung phân tích này lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm của sự phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển và hành động Thứ ba, khung phân tích sinh kế bền vững thừa nhận các chính sách, thể chế và quá trình ảnh hưởng đến sự tiếp cận và sử dụng các tài sản hay còn gọi là các loại vốn mà cuối cùng chúng đều ảnh hưởng đến sinh kế của con người Thứ tư, sinh kế của con người được phân tích dưới góc độ sở hữu và tiếp cận các loại vốn, hay còn gọi là tài sản vốn. Trong đó có năm loại vốn chính là: 1) Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà con người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế; 2) Vốn tài chính, ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình; 3) Vốn xã hội, là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; 4) Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. 5) Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế.
Có rất nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai. Năm 2011, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Mai, Nguyễn Huy Thắng của Viện Xã hội học đã công bố công trình “Sinh kế bền vững cho cư dân ven bờ vịnh Bắc bộ - Thực trạng và giải pháp” [48] trong phạm vi nghiên cứu 3 tỉnh duyên hải là Thanh Hóa, Khánh Hòa và Sóc Trăng. Trong những năm gần đây tình trạng đánh bắt ven bờ đã làm suy giảm cạn kiệt nguồn tài nguyên ven biển, chính vì vậy để giảm tình trạng khai thác quá mức đồng thời bảo vệ và phát triển hệ sinh thái ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học cần phải tìm sinh kế mới để thay thế một bộ phận sinh kế của người dân làm nghề đánh bắt ven biển. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy thực trạng sinh kế, những rủi ro sinh kế tạm thời và khả năng chuyển đổi sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển.
Đáng chú ý trong 11 nghiên cứu này chính là tác giả đã đề xuất các mô hình sinh kế thay thế đánh bắt ven bờ thông qua sự tham vấn của cộng đồng ngư dân ven biển. Năm 2015, tác giả Bùi Văn Tuấn đã công bố công trình nghiên cứu Thực trạng và giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa [74], trong đó đã khẳng định sinh kế, sinh kế bền vững có vai trò quan trọng đối với cộng đồng dân cư trong quá trình đô thị hóa. Trên cơ sở tiếp cận khung sinh kế bền vững, bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về sinh kế và vận dụng nghiên cứu sinh kế của cộng đồng dân cư vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa qua trường hợp quận Bắc Từ Liêm. Nghiên cứu đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư quận Bắc Từ Liêm, xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ gia đình tiếp cận các nguồn lực phát triển sinh kế.
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nâng cao và đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư dưới tác động của quá trình đô thị hóa trong bối cảnh phát triển và hội nhập. Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi phương thức sinh kế của người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tác giả Ngô Thị Phương Lan, trong công trình nghiên cứu “Từ cá sang tôm” [44] đã phác họa lại một bức tranh khá sinh động và sâu sắc về hoạt động sản xuất, mưu sinh của người nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, với khả năng thích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường. Từ việc đi sâu tìm hiểu các phương thức mưu sinh mới trong bối cảnh văn hóa, phát triển kinh tế xã hội của vùng, tác giả thấy rằng so với trồng lúa, nuôi tôm là nghề có tính rủi ro cao, người dân đã biết phát huy tốt nguồn vốn xã hội để giảm thiểu rủi ro. Quá trình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm của người dân đã cho thấy lối tư duy duy lý theo cách tiếp cận của Samuel Popkin (1979), mối quan tâm hàng đầu của người nông dân là sự thịnh vượng và an toàn của bản thân và gia đình họ [44, tr.78-81]; người dân lựa chọn việc chuyển dần các mảnh ruộng của gia đình làm đầm nuôi tôm, đầu tư phát triển các mạng lưới, quan hệ xã hội để phát triển kinh tế, giảm thiểu rủi ro khi mất mùa, đó là sự kết hợp giữa yếu tố duy tình và duy lý trong kinh tế để phù hợp bối cảnh phát triển.