Luận án tiến sĩ: Biến đổi văn hóa sinh kế của cư dân tại Tràng An dưới tác động của du lịch

Luận án tiến sĩ văn hóa học phân tích biến đổi văn hóa sinh kế cư dân tại Tràng An trước tác động của du lịch, đóng góp giá trị nghiên cứu sâu sắc.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
204
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu về sinh kế và văn hóa sinh kế

1.2. Các công trình nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa và biến đổi văn hóa sinh kế

1.3. Các công trình nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa sinh kế trước tác động của du lịch

1.4. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, tác động của du lịch đối với di sản và sinh kế của cư dân tại quần thể danh thắng Tràng An

1.5. Đánh giá chung về những thành tựu nghiên cứu mà luận án có thể kế thừa và những khoảng trống mà luận án cần đi sâu nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA SINH KẾ VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm công cụ

2.2. Lý thuyết biến đổi văn hóa và khung phân tích biến đổi văn hóa sinh kế

2.3. Quan điểm phát triển du lịch và mối quan hệ văn hóa sinh kế và du lịch tại Quần thể danh thắng Tràng An

2.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA SINH KẾ CỦA CƯ DÂN TẠI QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN

3.1. Đặc điểm văn hóa sinh kế của cư dân tại Quần thể danh thắng Tràng An trước năm 2000

3.2. Thực trạng biến đổi văn hóa sinh kế của cư dân tại Quần thể danh thắng Tràng An do tác động của phát triển du lịch

3.3. Đánh giá sự biến đổi văn hóa sinh kế của cư dân ở Quần thể danh thắng Tràng An trước tác động của phát triển du lịch

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ VÀ XU HƯỚNG TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI VĂN HÓA SINH KẾ CỦA CƯ DÂN TẠI QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

4.1. Những yếu tố tác động và xu hướng biến đổi văn hóa sinh kế của cư dân tại Quần thể danh thắng Tràng An

4.2. Những vấn đề đặt ra do tác động của phát triển du lịch

4.3. Một số khuyến nghị về giải pháp phát triển văn hóa sinh kế bền vững của cư dân ở Quần thể danh thắng Tràng An trong quá trình phát triển du lịch

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Biến đổi văn hóa sinh kế tại Tràng An

Biến đổi văn hóa sinh kế tại Tràng An là một hiện tượng phức tạp, chịu ảnh hưởng lớn từ sự phát triển của du lịch. Trước năm 2000, cư dân Tràng An chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, chăn nuôi và nghề thủ công. Tuy nhiên, với sự gia tăng của các dự án du lịch, nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, buộc người dân phải chuyển đổi sinh kế. Du lịch Tràng An đã mang lại cơ hội việc làm mới nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về văn hóa và lối sống.

1.1. Tác động của du lịch đến sinh kế

Tác động du lịch đã thay đổi cơ bản cách thức kiếm sống của cư dân Tràng An. Nhiều người chuyển sang làm dịch vụ du lịch như chèo đò, bán hàng lưu niệm, hoặc kinh doanh nhà nghỉ. Tuy nhiên, không phải ai cũng thích ứng kịp với sự thay đổi này. Một số người gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, dẫn đến tình trạng bất ổn về kinh tế và xã hội.

1.2. Biến đổi văn hóa do du lịch

Biến đổi văn hóa do du lịch thể hiện rõ qua sự thay đổi trong lối sống, phong tục tập quán của người dân. Các lễ hội truyền thống dần bị thương mại hóa, không còn giữ được nguyên vẹn giá trị văn hóa ban đầu. Điều này đặt ra câu hỏi về việc bảo tồn bản sắc văn hóa trong bối cảnh phát triển du lịch.

II. Thực trạng văn hóa sinh kế tại Tràng An

Văn hóa sinh kế của cư dân Tràng An đã trải qua nhiều biến đổi kể từ khi du lịch trở thành ngành kinh tế chủ đạo. Trước đây, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và nghề thủ công. Hiện nay, nhiều người đã chuyển sang làm dịch vụ du lịch, mang lại thu nhập ổn định hơn. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng kéo theo những hệ lụy về văn hóa và xã hội.

2.1. Đặc điểm văn hóa sinh kế truyền thống

Trước năm 2000, sinh kế của cư dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chăn nuôi và nghề thủ công. Các hoạt động này không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn gắn liền với các giá trị văn hóa truyền thống. Người dân sống hòa hợp với thiên nhiên, duy trì các phong tục tập quán lâu đời.

2.2. Thực trạng biến đổi hiện nay

Hiện nay, sinh kế của cư dân đã thay đổi đáng kể do tác động của du lịch. Nhiều người chuyển sang làm dịch vụ du lịch, mang lại thu nhập cao hơn nhưng cũng đặt ra thách thức về việc bảo tồn văn hóa truyền thống. Các lễ hội dần bị thương mại hóa, không còn giữ được nguyên vẹn giá trị ban đầu.

III. Giải pháp phát triển văn hóa sinh kế bền vững

Để phát triển văn hóa sinh kế bền vững tại Tràng An, cần có sự kết hợp giữa bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển du lịch. Các giải pháp cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người dân, đào tạo kỹ năng du lịch, và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

3.1. Nâng cao nhận thức và đào tạo kỹ năng

Việc nâng cao nhận thức của người dân về giá trị văn hóa truyền thống là yếu tố quan trọng. Đồng thời, cần tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng du lịch để giúp người dân thích ứng tốt hơn với sự thay đổi của sinh kế.

3.2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

Cần có các chính sách và biện pháp cụ thể để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời phát huy chúng trong hoạt động du lịch. Điều này không chỉ giúp duy trì bản sắc văn hóa mà còn tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH KẾ VÀ VĂN HÓA SINH KẾ 1. Về sinh kế Sinh kế là vấn đề được nhiều ngành khoa học trên thế giới quan tâm, nghiên cứu từ lâu. Về sau, sinh kế được các nhà nghiên cứu văn hóa từ nhiều chuyên ngành trong nước tiếp nhận và phát triển trong nghiên cứu về khoa học văn hóa ứng dụng, bởi nội hàm của sinh kế có tính thực tiễn cao.

Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, sau đó được Chambers, Conway và những nhà nghiên cứu khác phát triển vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Tiếp tục bổ sung và phát triển các nghiên cứu về sinh kế của Ủy ban Thế giới về Môi trường và phát triển (WCED), Chambers & Conway đã đưa ra khái niệm sinh kế tương đối hoàn chỉnh về sinh kế, bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp [104, tr. Trong tài liệu hướng dẫn khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững (1997), trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của Chambers & Conway và các công trình nghiên cứu trước đó, Ian Scoone và đồng nghiệp đã đưa ra khái niệm và khung phân tích sinh kế bền vững khá đầy đủ với 5 chỉ số đánh giá chính (bối cảnh, điều kiện xu hướng; các nguồn lực sinh kế; thể chế và tổ chức; chiến lược sinh kế; và kết quả sinh kế), trong đó các yếu tố thể chế và tổ chức ảnh hướng quan trọng tới kết quả sinh kế bền vững [109]. Schultz và Lavenda (2001) cho rằng khi nói đến sinh kế là hàm ý con người phải làm gì để có được của cải vật chất như lương thực, quần áo, chỗ ở nhằm duy trì cuộc sống [70, tr.

Trong khi đó Grant Evans, thì nhấn mạnh sinh kế nghiên cứu mặt vật chất của đời sống trong bối cảnh xã hội và văn hóa của nó, 9 đồng thời nghiên cứu cái cách mà các khâu sản xuất phân phối tiêu thụ đã tham gia như thế nào vào toàn bộ cấu trúc của xã hội, sinh kế không chỉ là kinh tế mà còn là văn hóa và phản ánh văn hóa [105]. Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam trong những năm trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra những nhận định về vấn đề sinh kế. Các nghiên cứu đa phần đã chỉ ra hoạt động kinh tế hay sinh kế chính là sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu vật chất để đảm bảo sự sinh tồn của mình, hay sinh kế là những phương thức kiếm sống của cá nhân hay cộng đồng, nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần để duy trì sự phát triển của cá nhân hay cộng đồng đó. Trong Luận án “Biến đổi sinh kế của người Dao di cư tự do tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk” của Đào Thanh Thái [75, tr.

34] đã đưa ra những vấn đề về sinh kế của người Dao tại Cư M’gar, tác giả cũng đã nhận định sinh kế của người Dao tại địa bàn mình nghiên cứu là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó. Trên cơ sở khung lý thuyết về sinh kế và biến đổi sinh kế của DFID, Trần Văn Bình đã đưa ra một quan niệm và hướng nghiên cứu tương đối toàn diện về sinh kế và biến đổi sinh kế. Tác giả đã nhấn mạnh đến việc kết hợp các hoạt động trong quá trình sử dụng các nguồn lực để đảm bảo cuộc sống (con người gồm khả năng, kỹ năng cá nhân; nguồn lực tự nhiên, tài chính và các thiết bị và các mối quan hệ, trợ giúp của xã hội) [13, tr.

Nội dung chính của khung phân tích sinh kế bền vững được nhà nghiên cứu Trần Văn Bình tóm tắt thành bốn điểm chính sau: Thứ nhất, khung phân tích sinh kế bền vững đề cập đến nhiều yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế đó là: 1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; 2) Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; 3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; 4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; 5) Bối cảnh 10 sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ. Thứ hai, khung phân tích này lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm của sự phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển và hành động Thứ ba, khung phân tích sinh kế bền vững thừa nhận các chính sách, thể chế và quá trình ảnh hưởng đến sự tiếp cận và sử dụng các tài sản hay còn gọi là các loại vốn mà cuối cùng chúng đều ảnh hưởng đến sinh kế của con người Thứ tư, sinh kế của con người được phân tích dưới góc độ sở hữu và tiếp cận các loại vốn, hay còn gọi là tài sản vốn. Trong đó có năm loại vốn chính là: 1) Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà con người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế; 2) Vốn tài chính, ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình; 3) Vốn xã hội, là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; 4) Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. 5) Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế.

Có rất nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai. Năm 2011, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Mai, Nguyễn Huy Thắng của Viện Xã hội học đã công bố công trình “Sinh kế bền vững cho cư dân ven bờ vịnh Bắc bộ - Thực trạng và giải pháp” [48] trong phạm vi nghiên cứu 3 tỉnh duyên hải là Thanh Hóa, Khánh Hòa và Sóc Trăng. Trong những năm gần đây tình trạng đánh bắt ven bờ đã làm suy giảm cạn kiệt nguồn tài nguyên ven biển, chính vì vậy để giảm tình trạng khai thác quá mức đồng thời bảo vệ và phát triển hệ sinh thái ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học cần phải tìm sinh kế mới để thay thế một bộ phận sinh kế của người dân làm nghề đánh bắt ven biển. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy thực trạng sinh kế, những rủi ro sinh kế tạm thời và khả năng chuyển đổi sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển.

Đáng chú ý trong 11 nghiên cứu này chính là tác giả đã đề xuất các mô hình sinh kế thay thế đánh bắt ven bờ thông qua sự tham vấn của cộng đồng ngư dân ven biển. Năm 2015, tác giả Bùi Văn Tuấn đã công bố công trình nghiên cứu Thực trạng và giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa [74], trong đó đã khẳng định sinh kế, sinh kế bền vững có vai trò quan trọng đối với cộng đồng dân cư trong quá trình đô thị hóa. Trên cơ sở tiếp cận khung sinh kế bền vững, bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về sinh kế và vận dụng nghiên cứu sinh kế của cộng đồng dân cư vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa qua trường hợp quận Bắc Từ Liêm. Nghiên cứu đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư quận Bắc Từ Liêm, xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ gia đình tiếp cận các nguồn lực phát triển sinh kế.

Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nâng cao và đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư dưới tác động của quá trình đô thị hóa trong bối cảnh phát triển và hội nhập. Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi phương thức sinh kế của người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tác giả Ngô Thị Phương Lan, trong công trình nghiên cứu “Từ cá sang tôm” [44] đã phác họa lại một bức tranh khá sinh động và sâu sắc về hoạt động sản xuất, mưu sinh của người nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, với khả năng thích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường. Từ việc đi sâu tìm hiểu các phương thức mưu sinh mới trong bối cảnh văn hóa, phát triển kinh tế xã hội của vùng, tác giả thấy rằng so với trồng lúa, nuôi tôm là nghề có tính rủi ro cao, người dân đã biết phát huy tốt nguồn vốn xã hội để giảm thiểu rủi ro. Quá trình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm của người dân đã cho thấy lối tư duy duy lý theo cách tiếp cận của Samuel Popkin (1979), mối quan tâm hàng đầu của người nông dân là sự thịnh vượng và an toàn của bản thân và gia đình họ [44, tr.78-81]; người dân lựa chọn việc chuyển dần các mảnh ruộng của gia đình làm đầm nuôi tôm, đầu tư phát triển các mạng lưới, quan hệ xã hội để phát triển kinh tế, giảm thiểu rủi ro khi mất mùa, đó là sự kết hợp giữa yếu tố duy tình và duy lý trong kinh tế để phù hợp bối cảnh phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Biến đổi văn hóa sinh kế tại Tràng An: Tác động của du lịch đến cư dân" phân tích sâu sắc về những thay đổi trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân Tràng An dưới tác động của ngành du lịch. Nó làm nổi bật cách du lịch đã thúc đẩy sự chuyển đổi sinh kế, đồng thời đặt ra những thách thức về bảo tồn văn hóa truyền thống. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa phát triển du lịch và đời sống cộng đồng, cũng như các giải pháp để cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn bản sắc văn hóa.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển cộng đồng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học quản lý cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nghiên cứu về chính sách dân tộc qua Luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005, hoặc khám phá thêm về giáo dục và lý tưởng cách mạng trong Luận văn thạc sĩ giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên các trường cao đẳng ở tỉnh Nam Định hiện nay. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ sung thêm kiến thức cho chủ đề bạn quan tâm.