chương 1: Định Hóa là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc anh em, tạo nên một bức tranh văn hoá độc đáo. Với một bề dày lịch sử, văn hoá, danh thắng và tiềm năng kinh tế, Định Hóa trở thành một vùng đất nhiều tiềm năng cho du lịch văn hoá, du lịch di tích lịch sử, du lịch sinh thái, du lịch lễ hội – tâm linh và du lịch tham quan, nghỉ dƣỡng cuối tuần… Những tiềm năng đó đan xen, hoà quyện vào nhau nếu đƣợc khai thác tốt sẽ hình thành những tour, tuyến du lịch hấp dẫn đối với du khách, đem lại một nguồn lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế địa phƣơng. Chƣơng 1 của khóa luận đã nêu ra đƣợc một số cơ sở lý luận cơ bản và những nét khái quát về huyện Định Hóa. Từ đó, ta có những cơ sở thực tiễn để kết hợp với những đặc điểm và giá trị của văn hóa dân tộc Tày ở chƣơng 2.
Để có những giải pháp nhằm nâng các giá trị văn hóa của dân tộc Tày cùng với những giải pháp phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng. ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TẠI ĐỊNH HÓA –THÁI NGUYÊN. Lịch sử hình thành và phân bố của ngƣời Tày tại Định Hóa. Ngƣời Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trƣớc Công nguyên.
Là một trong 54 dân tộc Việt Nam, thuộc nhóm địa phƣơng Pa dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, thuộc hệ ngôn ngữ Thái-Kadai sinh sống chủ yếu ở vùng núi thấp phía Bắc Việt Nam. Trong quá trình phát triển của lịch sử, một bộ phận ngƣời Kinh xuôi lên sinh sống lâu đời ở huyện Định Hóa, dần chuyển hóa thành ngƣời Tày. Đồng bào Tày chủ yếu làm ruộng lúa nƣớc, ngoài ra họ còn tiến hành các nghề thủ công khác nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống hàng ngày của gia đình nhƣ kéo sợi, dệt vải, đan lát, làm mộc, rèn đúc cuốc, dao. Bên cạnh đó họ con chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo, chăn nuôi lợn, gà, vịt, cá… tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình.
Dù là ngƣời Tày bản địa hay ngƣời Tày gốc Kinh đều đã sớm hòa nhập, cấu kết với nhau thành một khối Tày thống nhất cùng nhau xây dựng quê hƣơng và bảo vệ quê hƣơng Định Hóa, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Dân tộc Tày là dân cƣ chiếm số đông ở huyện Định Hóa. Hiện nay, ở Định Hóa có 43.367 ngƣời Tày chiếm 49,2% dân số toàn huyện. Có những xã của huyện Định Hóa ngƣời Tày chiếm tới 90% nhƣ: Linh Thông, Bộc Nhiêu, Điềm Mặc, Bình Yên…Theo tác giả Đào Duy Anh trong tác phẩm “Đất nƣớc Việt Nam qua các đời” thì ngƣời Tày ở nƣớc ta có nguồn gốc từ ngƣời Lão Man ở Trung Quốc.
Tác giả “đoán rằng ngƣời Nùng ở miền Nam Trung Quốc và ngƣời Tày ở Bắc Việt Nam là hậu duệ của họ. Đặc biệt là ngƣời Lão ở Tây Nguyên bấy giờ”. Ngoài nguồn gốc từ phía Nam Trung Quốc, ngƣời Tày ở Định Hóa còn một bộ phận “Tày hóa”. Ngƣời Kinh trong lịch sử đã có quá trình di cƣ lên Định Hóa sinh sống cùng ngƣời Tày và dần dần họ trở thành ngƣời Tày.
Một bộ phận ngƣời Tày hiện nay nếu xem xét gia phả thì hoàn toàn là ngƣời Việt. Đặc điểm và giá trị đời sống của ngƣời Tày tại Định Hóa. Nhà ở truyền thống. 15 Hiện nay, ngƣời Tày ở huyện Định Hóa còn tồn tại 2 loại hình nhà ở: Nhà sàn là dạng nhà truyền thống và phổ biến nhất của ngƣời Tày, thuộc kiểu nhà 3 gian 2 chái.
Hệ thống cột của nhà thƣờng đƣợc chôn thẳng xuống đất, hay một số nhà dùng đá kê dƣới chân cột nhƣng vẫn có một cột đƣợc chôn xuống đất. Theo quan niệm của đồng bào Tày những cột đó để giúp âm dƣơng hòa hợp khiến ngôi nhà đƣợc vững chắc, các thành viên trong nhà đƣợc mạnh khỏe. Nhà sàn truyền thống của ngƣời Tày ở Định Hóa - Thái Nguyên gồm có bộ phận chính và bộ phận phụ. Bộ phận chính gồm có mái nhà, bộ cột kèo và xuyên, sàn nhà, phên vách.
Bộ phận phụ gồm có máng nƣớc rửa chân, cầu thang, cửa ra vào, sàn nƣớc, gác mái và gác bếp, sân phơi. Mái nhà sàn của đồng bào Tày ở Định Hóa đƣợc lợp bằng cỏ gianh, có thể che mƣa che nắng rất tốt lại vừa nhẹ phần mái. Nếu lợp đƣợc dày thì trong nhà rất mát và có thể tồn tại đƣợc 5 - 10 năm. Bộ phận chủ yếu của một ngôi nhà truyền thống là bộ khung, sƣờn quyết định sự vững chãi và tạo nên hình dáng, ảnh hƣởng cơ bản đến tính thẩm mỹ của ngôi nhà.
Sinh hoạt trong mỗi ngôi nhà thƣờng tập trung tai sàn nhà. Mặt sàn của ngƣời Tày thƣờng làm cao hơn mặt đất khoảng từ 1,6 m đến 1,8 m. Sàn nhà sàn đƣợc làm từ thân tre bổ nát theo chiều dọc, rạch một đƣờng xẻ phanh cây thành một tấm gép lại với nhau. Ở Định Hóa có nhà khá giả họ làm sàn bằng những tấm ván gỗ.
Phên, vách là phần bƣng quanh diện tích sử dụng trong ngôi nhà. Trƣớc đây hầu hết ngôi nhà sàn đƣợc bƣng bằng phên tre, nứa, ngày nay một số gia đình có điều kiện đã bƣng bằng ván gỗ. Trƣớc khi lên nhà của đồng bào ngƣời Tày thì khách phải rửa chân tại máng đựng nƣớc rửa chân để bên trên cầu thang. Cầu thang nhà sàn của ngƣời Tày gồm 7 hoặc 9 thanh gỗ đẽo thành thang dài khoảng 120 - 150 cm, rộng 20 - 25 cm, hai đầu đóng mộng vào hai khung thang vững chắc.
Cầu thang đƣợc đặt tại đầu ngoài của sàn nƣớc, nằm trong khoảng trống của một góc lợp mái và chái nhà, chiếm 1/3 chiều dài của sàn nƣớc và hƣớng lên cửa, tức là nằm ngang so với ngôi nhà. Tuy là một trong những bộ phận phụ trong ngôi nhà sàn của ngƣời 16 Tày nhƣng chiếc cầu thang lại rất quan trọng không những trong sinh hoạt hàng ngày mà nó còn mang nhiều yếu tố tâm linh của đồng bào. Cầu thang trƣớc hết là vật dụng phục vụ cuộc sống hàng ngày của con ngƣời. Song nó là vật nối liền đất với sàn nhà, theo quan niệm của đồng bào thì cầu thang là chiếc cầu nối giữa âm với dƣơng.
Bậc thang lên xuống bao giờ cũng là số lẻ 7 hay 9 tùy thuộc vào độ cao của mặt sàn. Ngƣời Tày ở Định Hóa chỉ làm bậc cầu thang bởi số 7 hoặc 9 bởi “con số 9 và 7 thể hiện cái vía của cầu thang nhƣ 9 vía, 7 vía của con ngƣời”. Đồng bào kiêng làm cầu thang chẵn bởi số chẵn là biểu hiện của thế giới bên kia. Sinh hoạt trên nhà sàn Sinh hoạt hàng ngày trên nhà sàn của ngƣời Tày ở Định Hóa, có sự phân chia khu vực dành riêng cho từng đối tƣợng nên mỗi thành viên chỉ sinh hoạt ở đó, trừ khi có việc cần đến nơi khác.
Phân chia các khu vực nhƣ sau: gian thứ nhất là nơi sinh hoạt của nam giới và nơi ngủ của khách nam giới. Gian giữa gồm hai phần: phía trên là khu vực của con trai chủ nhà, phía dƣới giáp vách là nơi để chạn bát, ở giữa là bếp sinh hoạt. Gian thứ ba gồm hai phần: phía trƣớc là một buồng nhỏ dành cho con gái, ở giữa là giƣờng của chủ nhà. Chái phía trong, giáp giƣờng ngủ của chủ nhà là bàn thờ tổ tiên.
Ngƣời đàn ông, nhất là ngƣời chồng, ngƣời cha còn đang nắm quyền quyết định trong gia đình, khi ở nhà thì mọi thành viên khác đều nhƣờng chỗ ngồi nhƣ cạnh trên của bếp lửa về mùa đông, khu cửa sổ gian chính giữa về mùa hè. Ngƣời phụ nữ, kể cả vợ, mẹ hay con gái hầu nhƣ chỉ ngồi ở cạnh phía dƣới của bếp lửa vào mùa đông, hoặc ngồi ở khu cửa sổ cạnh sàn nƣớc nơi để các dụng cụ chế biến lƣơng thực, để quạt hòm và thông ra sân phơi. Khi ngồi quây quần bên bếp lửa, cả nhà cũng luôn tuân theo sự sắp đặt một cách tự giác, đã trở thành tập quán của mình: ngƣời vợ, ngƣời mẹ ngồi phía dƣới, gần chạn bát, gần đồ bếp núc để nấu cơm, con cái ngồi nô đùa hay đọc sách ở phía trong, ngƣời chồng, ngƣời cha ngồi chờ cơm ở khu trên, tranh thủ sửa sang một vài dụng cụ lao động. Nếu gia đình có khách thì chủ và khách ngồi ăn ở khu tiếp khách và sinh hoạt của đàn ông, còn phụ nữ thì ăn riêng ở dƣới bếp.
17 Một số kiêng kỵ liên quan đến nhà sàn của người Tày Định Hóa Những vấn đề kiêng kỵ trong cuộc sống nói chung và kiêng kỵ liên quan đến việc làm nhà và sinh hoạt trên nhà sàn của ngƣời Tày khá nặng nề. Trong việc chọn cây làm nhà, ngƣời Tày luôn kiêng sử dụng các loại cây cụt ngọn, cây sâu gốc. Đồng bào cho rằng cây cụt ngọn và cây sâu gốc là loại cây bệnh tật ốm yếu, nếu lấy chúng làm nhà thì con ngƣời sống trong đó sẽ bị ốm theo. Khi dựng nhà, ngƣời ta kiêng quay ngọn cây xuống đất, kiêng hƣớng ngọn cây về phía mặt trời mọc (là hƣớng của phụ nữ).
Khi dựng cột nhà hay chôn sàn ngƣời ta kiêng bóng ngƣời nấp nơi đang đặt cột hay đào hố bởi làm nhƣ vậy dễ phạm vào thân thể ngƣời có bóng nấp đó, hơn nữa sẽ ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời sống trong ngôi nhà đó. Khi dựng nhà xong, tuyệt đối không đƣợc đào hố trên nền nhà vì sợ phạm vào mạch ngôi nhà có thể gây hƣ hại ảnh hƣởng đến con ngƣời. Nhà đã dựng xong không đƣợc chém vào bất cứ bộ phận nào của ngôi nhà, nhất là các cây cột vì làm nhƣ vậy sẽ làm tổn hại đến phần hồn nhà, nó sẽ trả thù con ngƣời. Trong sinh hoạt hàng ngày, do đã có sự phân chia khu vực sinh hoạt dành riêng cho đối tƣợng nên không ai đƣợc vi phạm các quy định này, nhất là quy định cho ngƣời phụ nữ nhƣ: - Phụ nữ chủ nhà không đƣợc đến khu vực dành cho khách nam giới.
- Phụ nữ không đƣợc ngồi cạnh chồng tiếp khách, không đƣợc ngồi cạnh ở trên bếp sinh hoạt vì đây là nơi ngồi của đàn ông. - Phụ nữ không đƣợc trèo lên gác nhà hoặc gác bếp để lấy đồ dùng hay giống cây trồng vì đây là biểu hiện thiếu tôn trọng nam giới, đồng thời thể hiện trong nhà không có đàn ông là điều vô phúc.