CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN VE ĐÈ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan Khái niệm du lịch: Theo Khoản 1 Điều 3 Luật du lịch (2017), Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, tim hiéu, giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian không quá 01 (một) năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Có thê hiểu du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào vào ban sắc văn hóa dân tộc với sự tham giá của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Theo tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): “Du lich văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biếu diễn, về các lễ hội và các sự kiện van hóa khác, thăm các di tích và dén đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương ””.
Khái niệm lễ hội Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá cô truyền của các dân tộc trên đất nước ta và các nước khác trên thế giới. Theo từ điển Hán Việt: “LỄ” là những quy tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghỉ thức tôn giáo. “Hội” là cuộc vui, đám vui đông người.TS Lê Trung Vũ, lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, ton tại và phổ biến ở các tộc người, các quốc gia. Đây là một sinh hoạt đặc thù tu} vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội và quá trình tiến triển của từng tộc người, từng quốc gia.
Cho nên lễ hội dân tộc nào cũng mang bản sắc dân tộc ấy [29]. Lễ hội tiêu biểu của cộng đồng Việt là lễ hội truyền thống (lễ hội dân gian) hoặc đúng hơn là Hội làng. Nguyễn Thị Nguyệt: “Lễ hội là một hệ thống sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của một cộng đồng người gắn liền với các nghi thức đặc thù và cuộc vui chung nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người. Lễ hội có 2 phần: Phần Lễ và phần Hội.
Lễ được hình thành bởi nhân vật được thờ, hệ thống di tích, nghĩ lễ, nghi thức, thờ cúng, huyền tích, cảnh quan. mang tính riêng. Hội được cấu thành bởi những hình thức sinh hoạt vui chơi, trò diễn, trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật, không gian, thời gian, cảnh quan môi trường, người tô chức và người tham du, di tích lịch sử - văn hoá, danh thắng,.23] Như vậy đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về lễ hội khác nhau, nhưng rút đúc lại thì sau đây là khái niệm chung nhất về Lễ Hội: Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. Lễ hội là một hệ thống biểu tượng nhằm thực hiện hóa thế giới ý nệm về đời sống tâm linh bằng những nghỉ thức, những hoạt động dé con người giao tiếp với than linh.
Lễ hội là sự tập trung những nét tiêu biểu nhất cho văn hóa nghệ thuật của mỗi cộng đồng. Tín ngưỡng thờ Mẫu, Mẫu Tam Phủ và Mẫu Tứ Phủ 1. Tín ngưỡng thờ Mẫu Theo TS. Vũ Hồng Vận và TS.
Phạm Duy Hoàng: “Để hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu trước hết cần tìm hiểu về khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian của người Việt. Bởi vì, hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa có một quan điểm thống nhất xem thờ Mẫu là một tín ngưỡng hay một tôn giáo” [28, tr. Ông cho rằng: “Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan hệ mật thiết mà ranh giới để phân biệt chúng chỉ là tương đối. Tín ngưỡng là một khái niệm rộng hơn khái niệm tôn giáo”.7] Có rất nhiều định nghĩa về tín ngưỡng thờ Mẫu, có thê kê đến định nghĩa của C.
Mác - Lénin: “7ôn giáo chang qua chỉ là sự phản ánh hư do - vào dau óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chỉ phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực lượng siêu tran thé” [5]. Khi con người cảm thấy bị bất lực, yếu đuối trước các hiện tượng tự nhiên, tôn giáo trở thành điều khiến họ vượt qua những điều ấy. Đây là một hiện tượng siêu nhiên có sức mạnh vô cùng to lớn, chở che con người, giup xua 13 tan những lo lắng, sợ hãi của họ. “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc dau tranh chống bọn bóc lột tat nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp ở thé giới bên kia, cũng giống y như sự bat lực của người đã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ và những phép màu”.
[16] Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều gì đó và thông thường được hiểu là một niềm tin tôn giáo. Còn tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức tín ngưỡng có quan niệm, ý thức, hành vi và các tổ chức tôn giáo [14]. Đào Duy Anh xem tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa [1]. Nhà nghiên cứu như Phan Kế Bính lại xem tín ngưỡng như một tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thé hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Ở Việt Nam, đa phần các nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian, đã thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Nội hàm của tín ngưỡng thờ Mẫu được dùng dé biểu thị sự tôn vinh một nhân vật nào đó, hay có thể đồng nhất với việc thờ các vị nữ thần hiển linh được tôn phong là Mẫu như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu.17] Việt Nam với bề dày lịch sử lâu đời và gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước đã sở hữu rất nhiều nền văn hoá bản địa phong phú, đa dạng. Nhân dân lao động là chủ thê sáng tạo ra những tín ngưỡng dân gian, giữ gìn và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Vì thế, tín ngưỡng dân gian là hình thức tín ngưỡng quan trọng, phô biến trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân ta.
Tín ngưỡng thờ Mau được các triều đại phong kiến nước ta coi trọng và công nhận. Có thé ké đến các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn. đã sắc phong cho Thành Hoàng làng và cho nhiều nhân vật có công trong các cuộc chống giặc ngoại xâm, được thờ tự ở nhiều làng, xã và các thành thị tại Việt Nam. Với tín ngưỡng đa thần, ở Việt Nam có rất nhiều vị thần linh được thờ tự do quan niệm “vạn vật hữu linh”, các vi thần: Mặt trời, mặt trăng, than Dat, Rừng, Sông, Núi, Mây, Mua, Sam.
được ra đời, chở che cho người dân có một mùa vụ bội thu, mưa thuận gió hoà. Ở các vùng dân tộc thiêu 14 số, mỗi dân tộc sẽ có những hình thái tín ngưỡng riêng, có những hình thái tín ngưỡng nguyên thuỷ và tín ngưỡng dân gian ngày nay của nhóm dân tộc Tày - Thái, Mông - Dao, Môn - Khmer. Ngoài ra cần phải ké đến tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ những người đã khuất ở các gia đình người Việt hiện nay. Ở mỗi nhà hầu như nào nào cũng có ban thờ tô tiên và rất coi trọng những ngày gid, tết nhằm ghi nhớ công ơn những người đã sinh ra minh.
Phan Ngọc: “Tuc thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến nhất của người Việt Nam. Nó bắt nguồn từ niềm tin rằng linh hồn người chết vẫn tồn tại trong thế giới chúng ta và ảnh hưởng tới cuộc sống con cháu”.319] Tín ngưỡng thờ Mau là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng vị Nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được dân gian cho rằng có chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người (như: trời, đất, sông nui, nước non.; thờ những vị thái hậu, hoàng hậu, công chúa. là những người khi sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mat hiển linh, giúp đỡ, phù trợ cho dân, cho đất nước. Gắn bó với tín ngưỡng thờ Mẫu là hệ thống các truyền thuyết, huyền thoại, thần tích, các truyện thơ nôm, bài chầu văn, câu đối.
Và nói đến tín ngưỡng thờ Mẫu còn phải nói đến các hình thức diễn xướng như hát chau văn, hát bong, múa bóng, hầu đồng, lên đồng. Hình thức của tín ngưỡng thờ Mẫu được phân loại thành: Hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ; Hệ thống Tứ Pháp; Hệ thống thờ các nữ anh hùng, các bà chúa. Có thé nói, trung tâm của thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là nghỉ lễ lên đồng, thể hiện niềm tin về sự hiển linh của các vị than trong hệ thống Tam phủ. Các giá đồng bao gồm hát chầu văn, sự kết hợp của các trang phục đặc thù với những điệu múa thiêng tạo nên một sắc thái tâm linh và biểu tượng của nghi lễ hầu đồng.
Thông qua những người thực hành nghi lễ lên đồng, các thầy đồng đóng vai trò là người kết nối người dân và thần linh, giúp truyền đạt được với thần linh những mong muốn và khát vọng của con dân. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lạng Sơn Tại Lạng Sơn, hệ thong các làng, ban liên quan đến thực hiện các nghi lễ và hình thức sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh gắn với thờ Mẫu tập trung chủ yếu ở đền 15 Bắc Lệ, đền Mẫu Đồng Đăng. Rất ít nơi có được một hệ thống dấu ấn tín ngưỡng thờ Mẫu đậm đặc như ở đây. Thờ Mẫu tại Lạng Sơn chỉ tập trung vào cuộc sông hiện tại, hướng tâm linh vào thực tiễn cuôc sống mà người ta mong muốn (sức khoẻ, công danh, tài lộc).
Tục thờ Mẫu mang đậm nét văn hoá dân gian của người Việt, mặc dù không có giáo lý, giáo luật như một tôn giáo nhưng lại có đầy đủ các yếu tố tâm linh sâu sắc trong người Việt: Có lễ - nhạc - ca — vũ. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lạng Sơn thực hành theo hai cấp độ và phạm vi khác nhau: Cấp độ mang tính phô biến, hình thức chủ yếu ở việc dâng lễ (đồ lễ, sớ) và lời nói thiêng (cầu khấn, cúng bái) trong không gian thiêng vào thời điểm lễ tiết trong năm hoặc trong bat kì ngày lễ nào khác.