Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm - Giá trị Để hiểu rõ giá trị của di tích lịch sử - văn hóa ta cần làm rõ khái niệm về giá trị. Theo Ngô Đức Thịnh cũng đề xuất một định nghĩa tương đối toàn diện về khái niệm giá trị. Theo ông “Giá trị là quan niệm về cái có ý nghĩa, được cộng đồng xã hội lựa chọn, cùng nhau chia sẻ và tôn vinh.
Đối với mỗi thành viên trong nhóm, giá trị là cái đáng ước ao và khi đạt được sẽ bùng nổ sự thăng hoa tinh thần. Chính vì vậy thực thi giá trị có tác dụng điều tiết đối với hoạt động của con người, tìm hiểu giá trị có giá trị giúp ta tiếp cận các động lực ẩn tàng trong đời sống xã hội” [48,tr. Như vậy, giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở đây có thể hiểu với tư cách là yếu tố có ích cho mọi ngừời, cho cộng đồng, dân tộc được cộng đồng lựa chọn. Nhờ vai trò, tính hữu ích, ý nghĩa tinh thần cao cả mà giá trị di tích lịch sử - văn hóa được cộng đồng và xã hội thừa nhận, hướng tới và tôn vinh.
Và, đối với di tích kiến trúc nghệ thuật đó là sự kết tinh những giá trị trong những cấu trúc về kỹ thuật xây dựng, tổ hợp không gian kiến trúc, sự biểu đạt về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức về sự giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người gắn liền với giá trị nhân văn về những giá trị văn hóa phi vật thể. Và chính từ những yếu tố đó, công trình trở thành tiêu biểu, mang dấu ấn của thời đại, phản ánh các đặc thù về kinh tế, chính trị xã hội… của dân tộc theo từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội. 12 - Bảo tồn và phát huy di tích Bảo tồn di tích là những hoạt động diễn ra thường xuyên, nhằm chăm sóc, bảo dưỡng các di tích lịch sử, văn hóa, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho di tích tồn tại một cách bền vững, lâu dài. Việc bảo tồn di tích được tiến hành theo định kỳ và được ghi nhận qua các thời kỳ của lịch sử.
Với sự phát triển của khoa học, công tác bảo tồn di tích ở nước ta được tiến hành một cách khoa học, tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của pháp luật và đảm bảo những quy chuẩn đặt ra của khoa học. Tại Điều 3 của Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ngày 6/2/2003 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã nêu: “Bảo tồn di tích là những hoạt động đảm bảo sự bảo tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó”. “Phát huy là làm cho cái hay cái tốt lan rộng tác dụng và tiếp tục phát triển thêm”. Vậy bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa là những hoạt động diễn ra thường xuyên nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của nó, để cho cái hay cái đẹp của di tích lan tỏa làm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay nhưng vẫn đảm bảo lợi ích cho thế hệ mai sau.
- Di sản văn hóa Điều 1 - Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam 2001 đã sửa đổi, bổ sung năm 2009 xác định: “Di sản văn hóa là những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể” [36]. - Di sản văn hóa vật thể Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 Luật Di sản văn hóa hiện hành: Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học 13 bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Luật Di sản văn hóa hiện hành, việc xét duyệt công nhận, xếp hạng di tích ở Việt Nam dựa vào những tiêu chí sau: + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; + Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; + Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật.
Theo tính chất lãnh thổ và giá trị, Điều 29 Luật Di sản văn hóa hiện hành quy định di tích ở nước ta được phân thành 3 loại sau: + Di tích cấp tỉnh là di tích có gía trị tiêu biểu của địa phương; + Di tích quốc gia là di tích có gí trị tiêu biểu của Quốc gia; + Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của Quốc gia [68]. - Di sản văn hóa phi vật thể Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003, Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một 14 phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác [58]. Tại khoản 1, Điều 1 Luật di sản văn hóa hiện hành quy định: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [68].
Căn cứ Nghị định 98/2010/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Trí thức dân gian [13]. - Di tích lịch sử - văn hóa Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa; Điều 14 nêu rõ: “Di tích quy định tại điều 29 Luật Di sản văn hóa là các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh” [12]. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; Tại điều 2, điểm 2 quy định: “Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [13]. Tại khoản 3, Điều 4, Luật Di sản văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 29 tháng 6 năm 2001, quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [36].
15 - Phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Đi liền với thuật ngữ bảo tồn là phát huy. Theo các tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt thì “phát huy thì làm cho cái hay, cái tốt tỏa được tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [32, tr. Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 2013 thì “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn: phát huy sức mạnh tập thể” [69, tr. Một cách chi tiết hơn, tác giả Võ Quang Trọng Bảo trong cuốn “Bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể” thì phát huy có nghĩa là: Những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong việc thực hiện xã hội, xem đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, mang lại những lợi ích của vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội”.
Phát huy các giá trị di sản văn hóa còn nhằm mục tiêu phát triển những giá trị văn hóa một cách bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa. Di sản văn hóa gồm văn hóa vật thể và phi vật thể là tài sản vô giá của một địa phương, của một dân tộc. Chúng phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn hóa của địa phương đó, dân tộc đó [3, tr. - Du lịch và du lịch văn hóa Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã nêu một cách ngắn gọn, phản ánh thực chất của một dạng hoạt động của con người, theo đó: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [37].
Từ định nghĩa du lịch như đã nêu, có thể nhận thấy những điểm chung, mang tính “đặc trưng” của hoạt động du lịch. Trước hết, đó phải là chuyến đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên. Chuyến đi đó, chẳng những không 16 đem lại nguồn thu về tài chính, hay lợi ích kinh tế đối với người thực hiện (khách du lịch), mà họ còn phải trả lệ phí cho chuyến đi của mình, tức mua sản phẩm – dịch vụ du lịch, thường được gọi là “mua tour”.