Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được hình thành trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam đang từng bước khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, với sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách: từ giai đoạn đầu mở cửa đến năm 2008 đã đạt 4,254 triệu lượt khách quốc tế và hơn 18,5 triệu lượt khách nội địa. Cùng với xu thế hiện đại hóa đời sống xã hội, nhu cầu tìm hiểu các giá trị cội nguồn, văn hóa truyền thống ngày càng trở nên thiết yếu. Trên phạm vi cả nước, từ năm 1962 đến năm 2006, Nhà nước đã xếp hạng được 2.888 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
Thành phố Hải Phòng là đô thị cận đại nhưng có bề dày lịch sử cư trú lâu đời, mang dấu ấn khảo cổ Cái Bèo (khoảng 6.000 năm trước), Tràng Kênh (khoảng 2.000 năm trước) và văn hóa Đông Sơn thời đại kim khí đồng thau. Về mặt di sản, địa phương lưu giữ nhiều công trình có giá trị lịch sử và nghệ thuật kiến trúc đặc sắc, gắn với tên tuổi nữ tướng Lê Chân, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền và thời kỳ đô thị cận hiện đại từ năm 1888. Mặc dù sở hữu tài nguyên nhân văn phong phú, song các di tích lịch sử văn hóa tại khu vực trung tâm thành phố Hải Phòng chưa thực sự tạo dựng được sự quan tâm đồng đều và sự nhận diện rõ rệt đối với du khách khi so sánh với các trung tâm du lịch biển đảo như Đồ Sơn hay Cát Bà. Vấn đề thực tiễn đặt ra là cần đánh giá khoa học sức hấp dẫn của hệ thống di tích nội thành để định hình giải pháp khai thác du lịch bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn về sức hấp dẫn của tài nguyên di tích lịch sử văn hóa cùng hoạt động kinh doanh du lịch gắn với di tích.
- Làm rõ lịch sử hình thành, giá trị tài nguyên và thực trạng hoạt động du lịch tại hệ thống di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu thuộc khu vực nội thành Hải Phòng.
- Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ công tác tôn vinh, bảo tồn và nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến du lịch nội thành Hải Phòng.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Hải Phòng, tập trung vào hệ thống các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở khu vực nội thành.
- Điều tra, đánh giá sức hấp dẫn, thực trạng và khả năng khai thác du lịch của các di tích được lựa chọn khảo sát.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn và hiệu quả khai thác du lịch của các di tích lịch sử văn hóa tại khu vực nội thành Hải Phòng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về đánh giá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch và hệ thống các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu tại khu vực nội thành thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung về mặt không gian tại các điểm du lịch, di tích lịch sử văn hóa thuộc các quận nội thành Hải Phòng (chủ yếu là Lê Chân và Hồng Bàng). Nguồn tư liệu khảo cứu được thu thập từ Sở Du lịch Hải Phòng, Ban Quản lý các di tích nội thành và Bảo tàng Hải Phòng với mốc số liệu thống kê thực trạng chủ yếu từ năm 2000 đến năm 2008.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận khái niệm sức hấp dẫn du lịch dưới góc độ tổng thể: sức hấp dẫn là tập hợp các nguồn lực của một điểm tham quan, khu du lịch hoặc vùng du lịch có khả năng thu hút du khách, được tạo lập từ giá trị tự thân của tài nguyên (điều kiện chủ quan) kết hợp với phương thức tổ chức, quản lý, bảo tồn, cơ sở hạ tầng, dịch vụ và chất lượng nguồn nhân lực (điều kiện khách quan). Nghiên cứu khẳng định sức hấp dẫn mang tính tổng hợp, không đo lường đơn thuần bằng một chỉ số cơ học mà cần kết hợp giữa đánh giá định lượng chuyên gia và phân tích định tính từ thị hiếu của du khách.
Để lượng hóa giá trị di tích, khóa luận sử dụng khung đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của PGS.TS. Phạm Trung Lương (công bố trong công trình Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục, 2000). Thang điểm đánh giá tổng hợp tối đa là 100 điểm, chia làm 10 tiêu chí với hệ số gia trọng (hệ số 2 hoặc 3):
| STT |
Tiêu chí đánh giá sức hấp dẫn di tích lịch sử văn hóa |
Thang điểm chuẩn |
Điểm tối đa |
| 1 |
Vị trí địa lý thuận lợi |
4 × 2 |
8 |
| 2 |
Lịch sử hình thành và phát triển trên 500 năm |
4 × 2 |
8 |
| 3 |
Cảnh quan đẹp, quy mô lớn kết hợp nhiều tài nguyên có giá trị |
4 × 3 |
12 |
| 4 |
Nội thất các hạng mục công trình được giữ gìn, tôn tạo, bảo vệ tốt |
4 × 3 |
12 |
| 5 |
Vị trí kiến trúc và phong cách nghệ thuật độc đáo |
4 × 3 |
12 |
| 6 |
Tổ chức tôn tạo, bảo vệ, khai thác đúng nguyên tắc |
4 × 3 |
12 |
| 7 |
Gắn liền giá trị văn hóa đặc sắc, tôn vinh người có công, lễ hội lớn |
4 × 2 |
8 |
| 8 |
Môi trường tự nhiên và nhân văn có chất lượng tốt, không bị xâm hại |
4 × 2 |
8 |
| 9 |
Công tác nghiên cứu, tuyên truyền, quảng cáo được tiến hành tốt |
4 × 2 |
8 |
| 10 |
Di tích được xếp hạng loại quốc tế hoặc quốc gia đặc biệt |
4 × 3 |
12 |
| Tổng |
Khung đánh giá tổng hợp 10 tiêu chí |
— |
100 |
Bên cạnh khung lý thuyết trên, khóa luận vận dụng các văn bản quy phạm và chuẩn mực chuyên ngành gồm: Luật Di sản văn hóa năm 2001; Nghị quyết số 32/NQ-TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng; Quyết định số 40/QĐ-TCCQ ngày 03/06/1994 của UBND thành phố Hải Phòng về thành lập Sở Du lịch; phương pháp tính thu nhập du lịch và hệ số lan tỏa việc làm của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) với tỷ lệ 1 lao động trực tiếp tạo ra 2 đến 2,2 lao động gián tiếp.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu: Khảo sát trực tiếp tại các điểm di tích nội thành, quan sát cảnh quan, kiến trúc và hiện trạng đón tiếp khách nhằm đối chiếu giữa lý luận và thực tế.
- Phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá, tổng hợp: Tập hợp và phân loại các dãy số liệu về lượng khách, cơ sở lưu trú, doanh thu, cơ cấu di tích để phân tích xu hướng biến động theo chiều thời gian từ định lượng sang định tính.
- Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn: Phát phiếu thăm dò ý kiến và phỏng vấn trực tiếp du khách nội địa, khách quốc tế (theo các chương trình city tour), nhân dân địa phương và cán bộ phụ trách điểm di tích về mức độ hấp dẫn của từng công trình.
- Phương pháp dân tộc học và nghiên cứu lịch sử: Khảo cứu văn bia, tư liệu lịch sử, phong tục tập quán và hội hè dân gian gắn với các địa điểm thờ tự Thành hoàng và danh nhân lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển du lịch ở Hải Phòng
Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và các chỉ tiêu phát triển kinh tế du lịch của thành phố Hải Phòng. Địa bàn có tọa độ từ 20°30’39’’ đến 21°01’15’’ vĩ độ Bắc, 106°23’03’’ đến 107°08’39’’ kinh độ Đông, diện tích 1.507,6 km², gồm 7 quận và 8 huyện. Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 23–26°C, lượng mưa 1.600–1.800 mm, độ ẩm 80–85%, số giờ nắng đạt 1.692 giờ/năm. Hệ thống thủy văn có 16 sông chính với tổng chiều dài trên 300 km (sông Cấm, Lạch Tray, Bạch Đằng, Thái Bình...). Tài nguyên sinh vật nổi bật tại Vườn quốc gia Cát Bà (khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận tháng 12/2004) với 745 loài thực vật bậc cao và quần thể động vật rừng ngập mặn, san hô phong phú.
Theo số liệu thống kê năm 2005 của ngành văn hóa - thông tin thành phố, Hải Phòng sở hữu 96 di tích cấp quốc gia và 126 di tích cấp thành phố:
| Quận / Huyện |
Diện tích (km²) |
Di tích cấp quốc gia (2005) |
Mật độ DT QG / km² |
Di tích cấp TP (2005) |
Mật độ DT TP / km² |
| Hồng Bàng |
7,68 |
2 |
0,26 |
7 |
0,90 |
| Hải An |
10,49 |
12 |
1,14 |
2 |
0,19 |
| Ngô Quyền |
11,77 |
3 |
0,26 |
6 |
0,53 |
| Lê Chân |
4,42 |
7 |
1,85 |
3 |
0,67 |
| Kiến An |
38,05 |
2 |
0,05 |
7 |
0,18 |
| Đồ Sơn |
13,34 |
0 |
0,00 |
6 |
0,50 |
| An Dương |
157,74 |
10 |
0,06 |
6 |
0,03 |
| An Lão |
105,07 |
5 |
0,05 |
21 |
0,19 |
| Thủy Nguyên |
249,21 |
23 |
0,09 |
18 |
0,07 |
| Kiến Thụy |
158,48 |
10 |
0,06 |
16 |
0,01 |
| Tiên Lãng |
176,74 |
4 |
0,02 |
12 |
0,06 |
| Vĩnh Bảo |
189,41 |
18 |
0,09 |
16 |
0,08 |
| Cát Hải |
258,38 |
0 |
0,00 |
6 |
0,02 |
| Bạch Long Vĩ |
3,20 |
0 |
0,00 |
0 |
0,00 |
Về hạ tầng dịch vụ, hệ thống cơ sở lưu trú tăng trưởng từ 133 cơ sở (3.906 phòng) năm 2002 lên 285 cơ sở (7.975 phòng) vào năm 2008; số khách sạn xếp hạng 1–4 sao tăng từ 49 cơ sở (2002) lên 120 cơ sở (2008). Về kinh doanh lữ hành, toàn thành phố có trên 50 đơn vị đăng ký lữ hành nội địa nhưng chỉ có 12 doanh nghiệp hoạt động thực tế; mảng lữ hành quốc tế có 8 doanh nghiệp và 2 chi nhánh. Số lượng lao động ngành du lịch đạt 30.000 người vào năm 2008, trong đó 60% qua đào tạo nghề và 25% có trình độ cao đẳng, đại học. Doanh thu du lịch đạt 1.100 tỷ đồng năm 2008, tăng trưởng bình quân trên 30%/năm trong giai đoạn 2006–2008. Tổng lượng khách năm 2008 đạt 3.484 nghìn lượt (khách quốc tế 818 nghìn lượt, khách nội địa 2.666 nghìn lượt). Chỉ tiêu quy hoạch của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đặt ra cho năm 2010 là đón 4.000 nghìn lượt khách (1.400 nghìn lượt quốc tế), doanh thu đạt 527,5 triệu USD và đóng góp 9,2% vào GDP thành phố.
Chương 2: Điều tra và đánh giá sức hấp dẫn của các di tích lịch sử văn hóa trong nội thành Hải Phòng và hiện trạng hoạt động du lịch tại đây
Chương 2 là trọng tâm nghiên cứu của tác giả, phân tích sâu các giá trị tự thân và điều kiện phụ trợ của 6 công trình di tích, kiến trúc tiêu biểu ở trung tâm nội thành:
- Chùa Dư Hàng (Phúc Lâm Tự): Tọa lạc tại phường Hồ Nam, quận Lê Chân. Di tích có khởi nguồn từ thời Tiền Lê (980–1009), được mở rộng quy mô lớn dưới thời vua Lê Gia Tông (1672) và trùng tu năm 1917. Kiến trúc gồm Tam quan, Gác chuông ba tầng mười hai mái chạm tứ linh, Phật điện 7 gian lưu giữ 6 khánh đồng mun thời Trần, 15 cửa võng thếp vàng và bộ kinh Tràng A Hàm cổ. Qua thang điểm đánh giá, Chùa Dư Hàng đạt 80/100 điểm. Kết quả khảo sát du khách ghi nhận: 80% khách nội địa đánh giá hấp dẫn, 10% rất hấp dẫn, 10% bình thường.
- Đền Nghè (An Biên Cổ Miếu): Nằm tại phố Lê Chân, thờ nữ tướng Lê Chân – Tiền tổ khai canh làng An Biên. Di tích được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia ngày 21/12/1975. Công trình có cấu trúc Tiền tế, Hậu cung, Tứ phủ, lưu giữ nhiều hoành phi, câu đối và nghi thức tế lễ cổ truyền, gắn với tập tục hái lộc đêm giao thừa. Đền Nghè đạt 80/100 điểm theo khung đánh giá; khảo sát ý kiến khách nội địa cho kết quả tương tự chùa Dư Hàng (80% hấp dẫn, 10% rất hấp dẫn, 10% bình thường).
- Đình Hàng Kênh (Đình Nhân Thọ): Tọa lạc tại phường Hàng Kênh, quận Lê Chân. Văn bia ghi nhận mốc trùng tu năm Tự Đức Tân Hợi (1851), khởi dựng từ năm 1718. Mặt bằng hiện hữu rộng 3.600 m² (trước đây là 7.000 m²), bố cục kiểu chữ Công (I). Công trình sở hữu kết cấu ván sàn lòng thuyền bằng 20 m³ gỗ lim (tương đồng với đình Đình Bảng, Bắc Ninh) và nghệ thuật chạm khắc đồ sộ với hơn 400 con rồng trên gỗ (186 con tại gian giữa và mặt tiền Hậu cung, 112 con tại hiên ngoài). Đình thờ Ngô Quyền, xếp hạng di tích quốc gia ngày 28/04/1962. Nhờ giá trị kiến trúc và điêu khắc vượt trội, đình đạt 88/100 điểm.
- Nhà hát thành phố: Khởi công năm 1904, hoàn thành năm 1912, thiết kế theo phong cách nhà hát Opera châu Âu trung cổ với khán trường 400 chỗ, 100 cửa sổ và cửa ra vào, trần vòm trang trí tên các danh nhân nghệ thuật châu Âu (Mozart, Beethoven, Molière...). Quảng trường phía trước rộng 5.400 m². Công trình được tu bổ năm 2005 và đạt 89/100 điểm. Kết quả điều tra xã hội học ghi nhận sự phân hóa thị hiếu: 60% khách quốc tế đánh giá hấp dẫn, 10% rất hấp dẫn, 30% bình thường; trong khi tỷ lệ ở khách nội địa là 50% hấp dẫn, 20% rất hấp dẫn, 20% bình thường và 10% không hấp dẫn.
- Quán hoa: Xây dựng cuối năm 1944 bên cạnh quảng trường Nhà hát lớn, gồm cụm 5 quán hoa bằng gỗ, mái cong lợp ngói vẩy mang phong cách Á Đông truyền thống. Điểm số đánh giá sức hấp dẫn đạt 80/100 điểm.
- Bảo tàng thành phố Hải Phòng: Khởi dựng năm 1919 theo phong cách kiến trúc Gô-tích (Gothic), diện tích khuôn viên gần 1 ha với 17 phòng trưng bày cố định và hệ thống hiện vật ngoài trời (pháo cổ, máy bay MiG-17, tàu phá lôi). Công trình đạt 85/100 điểm. Khảo sát du khách cho thấy: 50% khách quốc tế đánh giá hấp dẫn, 10% rất hấp dẫn, 30% bình thường, 10% không hấp dẫn; khách nội địa có 60% đánh giá hấp dẫn, 10% rất hấp dẫn và 30% bình thường.
Bên cạnh các điểm di tích chính, cảnh quan dải vườn hoa trung tâm, 3 đài phun nước nghệ thuật (xây dựng năm 2005) và Tượng đài nữ tướng Lê Chân (tượng đồng cao 7,4 m, cả bệ cao 10,09 m, lông chim trên mũ cao 0,7 m, trọng lượng 19 tấn) đóng vai trò bổ trợ không gian kết nối hành trình tham quan nội thành.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn của hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa trong nội thành Hải Phòng
Từ các bất cập được phân tích ở Chương 1 và Chương 2 như: công tác quản lý điểm đến còn thiếu tính tập trung, dịch vụ bổ trợ và bến bãi thiếu quy hoạch, doanh nghiệp lữ hành nội địa chưa chủ động tạo sản phẩm chuyên biệt, đội ngũ hướng dẫn viên còn thiếu hụt trình độ ngoại ngữ, tác giả vạch ra các nhóm giải pháp:
- Quy hoạch không gian và hạ tầng kỹ thuật: Chỉnh trang cảnh quan xung quanh di tích, bố trí bãi đỗ xe du lịch hợp lý, giải quyết tình trạng bán hàng rong và bảo đảm mỹ quan đô thị.
- Bảo tồn và tôn tạo nguyên trạng: Tuân thủ nghiêm ngặt Luật Di sản văn hóa trong quá trình sửa chữa, trùng tu di tích gỗ cổ (đình Hàng Kênh, chùa Dư Hàng), không làm biến dạng các cấu kiện điêu khắc nguyên gốc.
- Phát triển và kết nối tuyến điểm: Thiết kế hoàn chỉnh tour tham quan nội thành (city tour) kết nối Chùa Dư Hàng – Đền Nghè – Đình Hàng Kênh – Nhà hát lớn – Quán hoa – Bảo tàng, kết hợp liên kết tuyến trung tâm với các khu du lịch nghỉ dưỡng Đồ Sơn và Cát Bà.
- Nâng cao năng lực nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kiến thức văn hóa, lịch sử bản địa và nghiệp vụ ngoại ngữ cho đội ngũ thuyết minh viên tại điểm, lái xe taxi và nhân viên phục vụ lữ hành.
- Tăng cường tuyên truyền, xúc tiến: Đổi mới nội dung quảng bá trên các phương tiện truyền thông trung ương và địa phương, duy trì website du lịch Hải Phòng, phát hành bản tin và đĩa hình chuyên đề về di tích lịch sử văn hóa.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng cụ thể về đánh giá điểm đến tại nội thành Hải Phòng:
- Đã thiết lập bảng điểm định lượng sức hấp dẫn cho 6 di tích, công trình kiến trúc văn hóa tiêu biểu: Nhà hát thành phố đạt điểm cao nhất (89 điểm), kế tiếp là Đình Hàng Kênh (88 điểm), Bảo tàng Hải Phòng (85 điểm), Chùa Dư Hàng (80 điểm), Đền Nghè (80 điểm) và Quán hoa (80 điểm).
- Xác lập cơ sở dữ liệu thăm dò xã hội học phản ánh sự khác biệt về mối quan tâm giữa khách quốc tế và khách nội địa: khách quốc tế đánh giá cao giá trị kiến trúc Pháp cận đại (Nhà hát lớn, Bảo tàng), trong khi khách nội địa có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến các di tích gắn với đời sống tâm linh và lịch sử kháng chiến dân tộc (Đền Nghè, Chùa Dư Hàng, Đình Hàng Kênh).
- Đóng góp khoa học của tác giả là việc ứng dụng thành công khung lý thuyết đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của PGS.TS. Phạm Trung Lương vào một địa bàn cụ thể ở cấp quận/nội thành, chuyển hóa các tiêu chí trừu tượng thành các điểm số và tỷ lệ phần trăm thực nghiệm, làm căn cứ thực chứng cho công tác quy hoạch du lịch địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về dung lượng và điều kiện nghiên cứu của một khóa luận cử nhân, tác giả chỉ tập trung khảo sát sâu 6 điểm di tích, công trình kiến trúc tiêu biểu tại khu vực nội thành (chủ yếu thuộc địa bàn quận Hồng Bàng và quận Lê Chân). Các di tích cấp quốc gia tại các quận mới (Hải An, Kiến An) cũng như hệ sinh thái di tích lịch sử văn hóa ngoại thành phong phú (Vĩnh Bảo với đền Trạng Trình, Thủy Nguyên, Tiên Lãng, An Lão) chưa được đưa vào bảng phân tích so sánh toàn diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi đánh giá sức hấp dẫn sang toàn bộ 96 di tích cấp quốc gia và 126 di tích cấp thành phố trên địa bàn Hải Phòng; nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa liên vùng giữa Hải Phòng với các trung tâm du lịch thuộc tam giác kinh tế phía Bắc (Hà Nội, Quảng Ninh).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên và học viên chuyên ngành Du lịch học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa học và Địa lý kinh tế khi tìm kiếm phương pháp luận về lượng hóa sức hấp dẫn điểm đến. Cụ thể, các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn sâu gồm:
- Quy trình áp dụng thang điểm 10 tiêu chí để chấm điểm tài nguyên du lịch nhân văn.
- Hệ thống số liệu thống kê thực trạng về mạng lưới cơ sở lưu trú, lữ hành, doanh thu, cơ cấu lao động và lượng khách du lịch tại Hải Phòng giai đoạn 2000–2008.
- Các khảo cứu chi tiết về kích thước, niên đại, cấu kiện kiến trúc cổ của đình Hàng Kênh (ván sàn lòng thuyền, 400 hình tượng điêu khắc rồng) và di tích Chùa Dư Hàng, Đền Nghè.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng công cụ hoặc thang đo khoa học nào để chấm điểm sức hấp dẫn của các di tích?
Tác giả áp dụng khung đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của PGS.TS. Phạm Trung Lương (công bố năm 2000), gồm 10 tiêu chí cụ thể với thang điểm tối đa là 100 điểm. Mỗi tiêu chí được tính điểm từ 1 đến 4 (yếu, trung bình, khá, tốt) và nhân với hệ số gia trọng tương ứng là 2 hoặc 3.
2. Công trình nào tại nội thành Hải Phòng đạt điểm đánh giá sức hấp dẫn cao nhất trong nghiên cứu?
Nhà hát thành phố đạt điểm số cao nhất với 89/100 điểm nhờ giá trị kiến trúc Pháp nguyên bản thế kỷ XIX–XX, quy mô 400 chỗ ngồi và quảng trường rộng 5.400 m². Tiếp theo sát nút là Đình Hàng Kênh với 88/100 điểm nhờ giá trị kiến trúc ván sàn cổ và hệ thống hơn 400 mảng chạm khắc rồng độc nhất.
3. Kiến trúc Đình Hàng Kênh có đặc điểm độc đáo nào khác biệt so với các ngôi đình thông thường?
Đình Hàng Kênh bảo lưu kết cấu ván sàn lát gỗ lim theo kiểu nhà sàn cổ truyền thống (thức ván thuyền với lòng thuyền ở giữa không lát, tốn 20 m³ gỗ lim) mà trên cả nước thời điểm đó chỉ còn tìm thấy tương tự tại đình Đình Bảng (Bắc Ninh). Ngoài ra, đình có hơn 400 mảng chạm nổi rồng sinh động trên gỗ, không có con nào trùng lặp nhau.
4. Khảo sát thực tế trong văn bản ghi nhận thực trạng kinh doanh lữ hành tại Hải Phòng giai đoạn 2008 ra sao?
Văn bản ghi nhận toàn thành phố có trên 50 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa, nhưng thực tế chỉ có 12 đơn vị hoạt động. Mảng lữ hành quốc tế có 8 doanh nghiệp và 2 chi nhánh, năng lực khai thác thị trường khách quốc tế còn hạn chế, chủ yếu đón khách Trung Quốc theo quy chế và phụ thuộc vào việc nối tour từ các hãng lữ hành tại Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh.
5. Tượng đài nữ tướng Lê Chân tại dải công viên trung tâm có các thông số kỹ thuật cụ thể nào?
Tượng đài nữ tướng Lê Chân được đúc bằng đồng nguyên khối, thân tượng cao 7,4 m, tổng chiều cao tính cả bệ đạt 10,09 m, riêng phần lông chim trên mũ cao 0,7 m và tổng trọng lượng đạt 19 tấn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Vân Anh đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tài nguyên và hoạt động du lịch thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000–2008. Bằng việc ứng dụng thang điểm định lượng tài nguyên nhân văn kết hợp điều tra xã hội học, nghiên cứu đã xác định cụ thể mức độ hấp dẫn của 6 di tích, công trình kiến trúc văn hóa trọng điểm tại khu vực nội thành. Các kết quả phân tích chỉ ra rõ rệt tiềm năng to lớn cùng những điểm nghẽn về hạ tầng, dịch vụ và tính liên kết tour tuyến, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính thực tiễn nhằm phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch đô thị.