Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, ngành Du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về tăng trưởng lượng khách, doanh thu, đóng góp vào GDP và giải quyết việc làm. Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo chiến lược phát triển của Chính phủ, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải đa dạng hóa và làm phong phú các sản phẩm du lịch. Song song với các loại hình truyền thống như nghỉ dưỡng hay tham quan văn hóa, du lịch Trekking – một hình thức du lịch thể thao, khám phá mạo hiểm – đang thu hút sự quan tâm lớn từ du khách, đặc biệt là giới trẻ và du khách quốc tế.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu hệ thống về loại hình du lịch này còn thiếu hụt. Hoạt động khai thác tour Trekking phần lớn do các doanh nghiệp lữ hành tổ chức mang tính tự phát, chạy theo lợi nhuận kinh tế ngắn hạn và chưa gắn liền trách nhiệm đối với việc bảo tồn tài nguyên tự nhiên cũng như hỗ trợ kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương (CĐĐP). Vườn quốc gia (VQG) Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai) sở hữu cảnh quan núi cao hùng vĩ, khí hậu mát mẻ, tính đa dạng sinh học cao cùng bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số. Nơi đây là điểm đến Trekking lý tưởng nhưng hoạt động khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, đồng thời tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Do đó, việc nghiên cứu hoạt động du lịch Trekking theo định hướng du lịch sinh thái là vấn đề có tính cấp thiết thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu:
Phát triển hoạt động du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên trên cơ sở cân bằng giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, góp phần bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan cơ sở lý luận về Du lịch Trekking, Du lịch sinh thái và Du lịch Trekking theo quan điểm Du lịch sinh thái.
- Nghiên cứu các tiềm năng tự nhiên và nhân văn của VQG Hoàng Liên phục vụ cho phát triển Du lịch Trekking.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển hoạt động du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên dựa trên quan điểm du lịch sinh thái.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên tiếp cận theo các nguyên tắc của du lịch sinh thái.
- Phạm vi khoa học: Loại hình du lịch đi bộ dã ngoại, khám phá, mạo hiểm (Trekking).
- Phạm vi không gian: VQG Hoàng Liên thuộc địa phận tỉnh Lào Cai và các tuyến điểm du lịch điển hình trong mối liên kết không gian với thị trấn Sa Pa và các vùng lân cận.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực địa được tổng hợp, phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2000 – 2009 (khóa luận hoàn thành tháng 06/2010).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành:
- Du lịch Trekking: Phân biệt rõ giữa hiking (đi bộ đơn thuần cường độ cao) và trekking (đi bộ đường dài mang tính khám phá, vượt qua thử thách địa hình hiểm trở). Tác giả tiếp thu các định nghĩa của David Noland, Robert Strauss và Nhóm dự án hỗ trợ Du lịch bền vững huyện Sa Pa để xác định Trekking là loại hình du lịch đi bộ nhiều ngày qua các vùng đồi núi, cao nguyên hoang sơ, đòi hỏi nỗ lực thể chất cao, ít phụ thuộc vào tiện nghi hiện đại và có sự hỗ trợ của người dẫn đường hoặc nhân viên khuân vác bản địa (porter).
- Du lịch sinh thái: Tiếp cận định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain (1987), Phạm Trung Lương - Nguyễn Tài Cung (1998) và PGS.TS Trần Đức Thanh. Du lịch sinh thái được xác định là loại hình du lịch diễn ra tại các vùng tự nhiên tương đối hoang sơ, có tính giáo dục và diễn giải môi trường cao, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và đảm bảo quyền lợi kinh tế - xã hội cho CĐĐP.
- Du lịch Trekking theo quan điểm sinh thái: Khẳng định hoạt động Trekking chỉ thực sự bền vững khi tuân thủ 4 nguyên tắc cốt lõi:
- Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường cho du khách.
- Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của CĐĐP.
- Tạo cơ hội việc làm và chia sẻ lợi ích kinh tế công bằng cho cư dân bản địa.
Cơ sở pháp lý và văn bản quy hoạch
Đề tài sử dụng các căn cứ pháp lý về thành lập và quản lý VQG Hoàng Liên:
- Quyết định 194/CT ngày 09/08/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xác lập khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích ban đầu 5.000 ha.
- Quyết định số 39QĐ/UB năm 1994 của UBND tỉnh Lào Cai thành lập Ban Quản lý Khu bảo tồn Hoàng Liên (diện tích 29.845 ha).
- Quyết định số 90/2002/QĐ-TTg ngày 12/07/2002 của Thủ tướng Chính phủ chuyển hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên thành Vườn quốc gia Hoàng Liên (tổng diện tích 29.845 ha).
- Sự kiện VQG Hoàng Liên được công nhận là Vườn Di sản ASEAN năm 2006.
- Đề án điều chỉnh Quy hoạch phát triển du lịch Lào Cai giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020; Dự án Phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học tại tỉnh Lào Cai (AFD).
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả vận dụng 4 quan điểm nghiên cứu chủ đạo (Quan điểm hệ thống, Quan điểm tổng hợp, Quan điểm kinh tế sinh thái, Quan điểm lịch sử) cùng các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu từ các báo cáo khoa học của VQG Hoàng Liên, Phòng Văn hóa – Thông tin – Du lịch huyện Sa Pa, Trung tâm Thông tin Du lịch Sa Pa, các tài liệu của WWF, FFI, Frontier Việt Nam và Niên giám thống kê địa phương.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa các hợp phần tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa bản địa, công tác quản lý và chuỗi dịch vụ du lịch Trekking.
- Phương pháp xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp đối với du khách, người dân địa phương tham gia chuỗi cung ứng (hướng dẫn viên, porter, hộ gia đình kinh doanh homestay) và cán bộ quản lý VQG.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch Trekking theo quan điểm du lịch sinh thái
Chương 1 khái quát lịch sử hình thành hoạt động Trekking trên thế giới từ nửa sau thế kỷ XX (khởi đầu từ giới quý tộc Châu Âu, Châu Mỹ; dấu mốc ra đời của Mountain Travel US vào tháng 01/1960 tại Mỹ; sự phát triển mạnh mẽ tại dãy Himalaya, Nepal, dãy Alps) và quá trình du nhập vào Việt Nam từ thập niên 1990 tại các điểm đến miền núi như Sa Pa, Pù Luông.
Tác giả lượng hóa các thành tố cơ bản của một chuyến Trekking (độ dài chuyến đi, thời gian trek, khoảng cách đi bộ, độ cao tối đa, mức độ thách thức thể lực, thách thức tinh thần, chi phí, khoảng thời gian chính - phụ trong năm) và hệ thống hóa 5 cấp độ thể lực theo tiêu chuẩn quốc tế. Trên cơ sở đó, khóa luận xác định 3 mức độ Trekking áp dụng trong thực tế tại VQG Hoàng Liên:
| Mức độ |
Thời gian đi bộ |
Quy mô nhóm tối đa |
Tỷ lệ hướng dẫn viên (HDV) |
Yêu cầu thể lực và hạ tầng kỹ thuật |
| Mức độ 1 (Dễ) |
Khoảng 2 giờ |
20 khách/nhóm |
1 HDV / 20 khách (hoặc tự đi bộ) |
Phù hợp với mọi đối tượng khách; đường rộng, lát gạch hoặc rải sỏi; ô tô dễ tiếp cận; dịch vụ đầy đủ. |
| Mức độ 2 (Trung bình) |
Khoảng 6 giờ |
12 khách/nhóm |
1 - 2 HDV / 12 khách |
Thể lực tương đối tốt; đường đơn, hẹp, có đoạn dốc và bùn lầy; có cầu bắc qua suối; có dịch vụ cơ bản. |
| Mức độ 3 (Khó) |
Khoảng 8 giờ trở lên |
8 khách/nhóm |
1 - 2 HDV / 8 khách |
Thể lực rất tốt, có kinh nghiệm; đường dốc hiểm trở; không có cầu vượt suối lớn; phải cắm trại hoặc ngủ bản qua đêm; cần porter hỗ trợ. |
Chương này cũng phân tích sâu mối liên hệ giữa VQG và hoạt động Trekking, vai trò cung cấp dịch vụ ban đầu của CĐĐP (homestay, dẫn đường, khuân vác) và các tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên với cộng đồng dân cư.
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch Trekking tại Vườn quốc gia Hoàng Liên
Chương 2 trình bày toàn diện tiềm năng tự nhiên, nhân văn và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tại khu vực nghiên cứu:
- Vị trí và quy mô không gian: VQG Hoàng Liên có tọa độ từ 22°08’24” đến 22°22’46” vĩ Bắc, 103°45’45” đến 103°59’16” kinh Đông, tổng diện tích 29.845 ha (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 11.875 ha; Phục hồi sinh thái: 17.900 ha; Hành chính - Dịch vụ: 70 ha), vùng đệm rộng 88.724 ha thuộc địa bàn huyện Sa Pa, huyện Văn Bàn (Lào Cai), huyện Than Uyên, Phong Thổ (Lai Châu).
- Địa hình và khí hậu: Độ cao dao động từ 600 m đến 3.143 m (đỉnh Fansipan - nóc nhà Đông Dương), độ dốc bình quân 25° - 35°, có nơi đạt 40° - 45°, độ chia cắt sâu từ 1.000 - 1.500 m tạo nên các sinh cảnh phân tầng rõ rệt. Khí hậu mang tính chất á ôn đới và nhiệt đới núi cao; thời điểm Trekking thuận lợi nhất là mùa khô (tháng 9 đến tháng 12) và mùa xuân (tháng 3 đến tháng 5); mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 8 gây khó khăn cho việc di chuyển. Thủy văn gồm hệ thống suối Mường Hoa, Séo Trung Hồ, Tả Trung Hồ gom về ngòi Bo cùng nhiều thác nước nổi tiếng (Thác Bạc, Thác Tình Yêu, Thác Cát Cát, Thác La Ve).
- Đa dạng sinh học:
| Hợp phần sinh vật |
Số lượng ghi nhận |
Đặc điểm và giá trị bảo tồn nổi bật |
| Thực vật bậc cao có mạch |
2.847 loài (thuộc 1.064 chi, 299 họ) |
149 loài trong Sách đỏ Việt Nam (chiếm 5,2% khu hệ); 23 loài trong Sách đỏ thế giới (năm 2000); 167 loài phong lan; 30 loài đỗ quyên; 36 loài thực vật đặc hữu mang tên Sa Pa và Fansipan. |
| Động vật có xương sống trên cạn |
555 loài (thuộc 95 họ, 28 bộ) |
Gồm 96 loài thú, 346 loài chim, 63 loài bò sát, 50 loài lưỡng thê (ghi nhận theo biểu thống kê của VQG); 60 loài quý hiếm ghi trong Sách đỏ thế giới; phát hiện loài ếch gai quý hiếm. |
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Bản sắc văn hóa độc đáo của 4 dân tộc thiểu số chính (H’mông, Dao, Giáy, Tày) thể hiện qua kiến trúc nhà ở (nhà trệt của người H'mông, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao và Giáy, nhà sàn truyền thống của người Tày), các lễ hội truyền thống (Tết nhảy người Dao đỏ, Gầu tào người H’mông, Lồng tồng người Tày, Roóng poọc người Giáy, Nào cống, Nhặn sồng), các loại nhạc cụ dân gian (khèn Kềnh, sáo Trà Pùn Tử, đàn Môi, đàn Tính Tẩu) và văn hóa ẩm thực đặc sắc (thắng cố, thịt hun khói khăng gai, lợn cắp nách, cơm lam, cá suối nướng Mường Hum).
- Tài nguyên danh thắng và làng bản: Di tích Bãi đá cổ Sa Pa (khảo cổ Glubev phát hiện năm 1925, xếp hạng Di tích quốc gia năm 1994), Cầu Mây, Ruộng bậc thang Sa Pa (được tạp chí Travel & Leisure bình chọn năm 2009) và các làng văn hóa du lịch cộng đồng: Cát Cát, Tả Van Giáy, Bản Dền.
- Hạ tầng kỹ thuật: Mạng lưới giao thông gồm Quốc lộ 4D, các đường mòn liên thôn theo Chương trình 135; trạm ADSL; hệ thống thủy điện Cát Cát và thủy điện Nậm Toóng (công suất 30 MW khởi công năm 2007); mạng lưới homestay tại Tả Van (34 hộ) và Bản Dền.
Chương 3: Thực trạng hoạt động du lịch Trekking tại Vườn quốc gia Hoàng Liên
Chương 3 tập trung phân tích số liệu hoạt động thực tế tại VQG Hoàng Liên tính đến năm 2009:
- Nguồn nhân lực:
- Ban Du lịch VQG Hoàng Liên năm 2009 có 115 người (trong đó có 5 lao động hợp đồng; 70% có trình độ đại học, 20% trung cấp, 5% thạc sĩ và tiến sĩ). Trình độ chuyên môn sâu về quản trị kinh doanh du lịch còn hạn chế; tỷ lệ người bản địa làm việc chính thức chưa cao do rào cản bằng cấp chuyên môn.
- Đội ngũ HDV du lịch Trekking tại địa bàn (năm 2009): HDV người Kinh chiếm 69,7% (124 người), HDV dân tộc thiểu số chiếm 30,3% gồm H’mông 23,03% (41 người), Dao 5,61% (10 người), Tày 1,12% (2 người), Nùng 0,56% (1 người). HDV người Kinh có trình độ đại học (60%) và ngoại ngữ tốt nhưng mức độ hiểu biết văn hóa phong tục bản địa chưa sâu; ngược lại, HDV dân tộc thiểu số (chủ yếu là nữ dưới 20 tuổi) am hiểu sâu sắc địa hình và phong tục, có khả năng giao tiếp tiếng Anh trực tiếp qua thực tế sau 2 - 4 năm nhưng thiếu kiến thức tổng quát và nghiệp vụ đào tạo bài bản.
- Các tuyến Trekking đang khai thác:
- Tuyến Trung tâm du khách VQG – Suối Vàng – Thác Tình Yêu: Dài khoảng 7 km, đi trong ngày, mức độ dễ, ít có sự tham gia của cộng đồng.
- Tuyến Sa Pa – Cát Cát: Dài 5 km, mức độ dễ, đường đi thuận lợi.
- Tuyến Sa Pa – Cát Cát – Y Linh Hồ – Lao Chải – Tả Van: Dài khoảng 30 km (2 ngày 1 đêm), kết hợp tìm hiểu văn hóa H'mông, Tày, Giáy và thăm Bãi đá cổ.
- Tuyến Sa Pa – Lao Chải – Tả Van – Bản Hồ – Thanh Phú – Nậm Sài – Nậm Cang – Sa Pa: Tuyến làng bản dài 75 km (quãng đường đi bộ 35 km), thời gian 4 ngày 3 đêm, cấp độ trung bình và khó.
- Tuyến chinh phục đỉnh Fansipan: Khai thác theo các hướng Trạm Tôn hoặc Cát Cát (thời gian 2 ngày 1 đêm hoặc 3 ngày 2 đêm), cấp độ khó; năm 2009 thu hút 13.530 lượt khách (chiếm 9,17% lượng khách Trekking VQG).
- Lượng khách du lịch:
Năm 2009, toàn huyện Sa Pa đón 122.350 lượt khách Trekking; trong đó các tuyến thuộc VQG Hoàng Liên đón 97.051 lượt, chiếm 79,32% lượng khách Trekking toàn huyện. So với tổng số 223.045 lượt khách đến VQG Hoàng Liên năm 2009, lượng khách tham gia hoạt động Trekking chiếm tỷ trọng 43,51%.
| Chỉ tiêu thống kê (Năm 2009) |
Số lượng |
Tỷ lệ so sánh |
| Tổng khách đến VQG Hoàng Liên |
223.045 lượt |
100% |
| Tổng khách du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên |
97.051 lượt |
43,51% tổng khách VQG |
| Tổng khách du lịch Trekking toàn huyện Sa Pa |
122.350 lượt |
VQG chiếm 79,32% toàn huyện |
| Lượt khách tham gia tuyến Trekking Fansipan |
13.530 lượt |
9,17% khách Trekking VQG |
- Đánh giá dưới góc độ du lịch sinh thái:
Hoạt động du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên vẫn còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: dịch vụ còn đơn điệu (chủ yếu dừng lại ở đi bộ ngắm cảnh, ngủ bản homestay cơ bản, ăn uống và bán hàng lưu niệm); thiếu các chương trình diễn giải và giáo dục môi trường chuyên sâu; rác thải chưa được thu gom triệt để trên các tuyến dốc cao; lợi ích kinh tế phân bổ chưa đồng đều khi phần lớn doanh thu thuộc về các hãng lữ hành bên ngoài, người dân địa phương chủ yếu nhận thù lao thấp từ việc khuân vác hoặc bán hàng rong.
Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động du lịch Trekking tại Vườn quốc gia Hoàng Liên
Khóa luận đề xuất 7 nhóm giải pháp nhằm định hướng hoạt động Trekking theo các nguyên tắc của du lịch sinh thái:
- Giải pháp quản lý: Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ban Quản lý VQG, chính quyền địa phương huyện Sa Pa và các doanh nghiệp lữ hành; thiết lập quy định kiểm soát sức chứa sinh thái (carrying capacity) trên từng tuyến trek; đăng ký và quản lý nghiêm ngặt hoạt động của các đoàn leo núi.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: Cải tạo, nâng cấp mạng lưới đường mòn tự nhiên, làm bậc thang chống trơn trượt bằng vật liệu thân thiện môi trường; xây dựng hệ thống biển báo chỉ dẫn, biển cảnh báo nguy hiểm song ngữ; thiết lập các trạm dừng chân dã ngoại, chòi quan sát và nhà vệ sinh sinh học tại các điểm nghỉ cố định.
- Xây dựng sản phẩm du lịch Trekking có chất lượng, đa dạng và đặc thù: Chuẩn hóa các tuyến theo 3 cấp độ khó; đa dạng hóa trải nghiệm bằng cách tích hợp hoạt động tìm hiểu văn hóa dân gian, giao lưu thể thao truyền thống, du lịch tình nguyện và nghiên cứu hệ sinh thái rừng núi cao.
- Tăng cường quảng bá về loại hình du lịch Trekking: Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chuyên trang thông tin du lịch Trekking sinh thái Hoàng Liên; cung cấp đầy đủ cẩm nang chỉ dẫn an toàn, bản đồ địa hình và nội quy bảo tồn cho du khách.
- Tăng cường diễn giải, giáo dục môi trường: Đưa nội dung giáo dục bảo tồn vào chương trình bắt buộc của các tour Trekking; tập huấn kỹ năng diễn giải tự nhiên cho đội ngũ HDV; phát tờ rơi, sổ tay hướng dẫn ứng xử không xả rác, không bẻ cành cây, không mua bán động thực vật hoang dã.
- Giải pháp hỗ trợ bảo tồn: Trích một phần doanh thu từ phí tham quan và dịch vụ Trekking để đóng góp trực tiếp vào Quỹ bảo tồn VQG, chi trả cho công tác tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và hỗ trợ sinh kế giảm áp lực khai thác tài nguyên.
- Nâng cao năng lực và tăng cường sự tham gia của cộng đồng: Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, kỹ năng sơ cấp cứu cứu hộ, đào tạo ngoại ngữ (tiếng Anh) cho người dân bản địa; hỗ trợ vốn vay cải tạo homestay đạt chuẩn vệ sinh; xây dựng quy chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa các hộ dân tham gia tổ porter và dịch vụ lưu trú.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã hệ thống hóa các chỉ số định lượng phản ánh thực trạng phát triển du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên giai đoạn đến năm 2009:
- Xác định tỷ trọng khách Trekking chiếm 79,32% tổng lượng khách Trekking của huyện Sa Pa và chiếm 43,51% tổng lượng khách đến VQG Hoàng Liên năm 2009 (đạt 97.051 lượt khách).
- Thống kê chi tiết cơ cấu đội ngũ nhân sự quản lý (115 cán bộ Ban Du lịch) và cơ cấu dân tộc của lực lượng hướng dẫn viên du lịch Trekking tại địa bàn (69,7% người Kinh, 23,03% người H'mông, 5,61% người Dao, 1,12% người Tày, 0,56% người Nùng).
- Phân loại và mô tả chi tiết lộ trình của 5 tuyến Trekking điển hình (bao gồm tuyến ngắn Suối Vàng - Thác Tình Yêu 7 km đến tuyến dài liên làng bản 75 km và tuyến đỉnh Fansipan với 13.530 lượt khách năm 2009).
Đóng góp của tác giả
- Về mặt lý luận: Bước đầu tổng hợp và hệ thống hóa khung lý luận chuyên biệt về du lịch Trekking dưới lăng kính của du lịch sinh thái; xây dựng bộ tiêu chí 3 mức độ phân loại tuyến Trekking phù hợp với điều kiện địa hình thực tế tại các vườn quốc gia Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo thực chứng cho các nhà quản lý VQG Hoàng Liên, cơ quan quản lý du lịch tỉnh Lào Cai và các đơn vị lữ hành trong việc định hướng xây dựng sản phẩm Trekking có trách nhiệm, hạn chế xung đột môi trường và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng đệm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn dữ liệu thống kê phản ánh thực trạng giai đoạn trước năm 2010; các phân tích về doanh thu kinh tế từ hoạt động Trekking chưa thể bóc tách chi tiết cho từng đơn vị lữ hành do tính chất tự phát của thị trường thời điểm khảo sát; số lượng mẫu điều tra xã hội học ở một số bản vùng sâu chưa bao phủ toàn diện 100% các xã vùng đệm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu tính toán định lượng sức chịu tải môi trường (carrying capacity) và giới hạn thay đổi chấp nhận được (LAC - Limits of Acceptable Change) trên từng tuyến Trekking cụ thể (đặc biệt là tuyến leo núi Fansipan); xây dựng mô hình liên kết kinh tế chuỗi giá trị khép kín giữa Ban quản lý VQG, chính quyền địa phương, doanh nghiệp lữ hành và tổ chức tự quản cộng đồng homestay/porter.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Địa lý du lịch, Quản lý tài nguyên môi trường, Lâm nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Phần nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Tiêu chí phân loại 3 cấp độ Trekking (Mức 1, 2, 3) gắn liền với quy định tỷ lệ HDV và quy mô nhóm khách tại [Chương 1].
- Bảng tổng hợp thống kê đa dạng sinh học (thực vật, động vật quý hiếm) và giá trị văn hóa bản địa (nhà ở, lễ hội, ẩm thực) tại [Chương 2].
- Dữ liệu cơ cấu nhân sự HDV và mô tả chi tiết lộ trình các tuyến Trekking tại [Chương 3].
- Hệ thống 7 nhóm giải pháp quản lý sức chứa và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại [Chương 4].
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân chia hoạt động du lịch Trekking tại Vườn quốc gia Hoàng Liên thành những cấp độ nào?
Văn bản phân chia thành 3 mức độ cụ thể:
- Mức độ 1 (Dễ): Đi bộ khoảng 2 giờ, tối đa 20 khách/nhóm, tỷ lệ 1 HDV/20 khách (hoặc tự đi), đường bằng phẳng rải sỏi hoặc lát gạch, ô tô dễ tiếp cận.
- Mức độ 2 (Trung bình): Đi bộ trung bình 6 giờ, tối đa 12 khách/nhóm, tỷ lệ khuyến nghị 1 - 2 HDV/12 khách, đường đơn dốc gồ ghề và có bùn lầy, có cầu qua suối.
- Mức độ 3 (Khó): Đi bộ khoảng 8 giờ trở lên, tối đa 8 khách/nhóm, tỷ lệ 1 - 2 HDV/8 khách, địa hình hiểm trở, không có cầu qua suối lớn, bắt buộc có porter hỗ trợ và nghỉ đêm dã ngoại/homestay.
2. Cơ cấu dân tộc của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch Trekking tại địa bàn Sa Pa năm 2009 như thế nào?
Theo số liệu thống kê năm 2009 trong khóa luận:
- HDV người Kinh chiếm 69,7% (124 người).
- HDV người H’mông chiếm 23,03% (41 người).
- HDV người Dao chiếm 5,61% (10 người).
- HDV người Tày chiếm 1,12% (2 người).
- HDV người Nùng chiếm 0,56% (1 người).
3. VQG Hoàng Liên sở hữu những tiềm năng đa dạng sinh học nổi bật nào phục vụ cho du lịch Trekking?
Vườn quốc gia hiện bảo tồn:
- Hệ thực vật gồm 2.847 loài thực vật bậc cao có mạch (thuộc 1.064 chi, 299 họ), trong đó có 149 loài trong Sách đỏ Việt Nam, 23 loài trong Sách đỏ thế giới, 167 loài phong lan, 30 loài đỗ quyên và 36 loài thực vật đặc hữu mang tên Sa Pa/Fansipan.
- Hệ động vật gồm 555 loài có xương sống trên cạn (gồm thú, chim, bò sát, lưỡng thê), trong đó có 60 loài quý hiếm ghi trong Sách đỏ thế giới.
4. Khối lượng khách du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên đạt tỷ trọng bao nhiêu trong năm 2009?
Trong năm 2009, toàn huyện Sa Pa đón 122.350 lượt khách Trekking thì VQG Hoàng Liên đón 97.051 lượt khách (chiếm 79,32% toàn huyện). So với tổng số 223.045 lượt khách đến VQG Hoàng Liên năm 2009, khách du lịch Trekking chiếm tỷ lệ 43,51%. Riêng tuyến Trekking leo núi Fansipan đạt 13.530 lượt khách (chiếm 9,17% lượng khách Trekking của VQG).
5. Bốn nguyên tắc du lịch sinh thái được tác giả đề xuất áp dụng cho hoạt động Trekking tại VQG Hoàng Liên là gì?
Bốn nguyên tắc bao gồm: (1) Thực hiện hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho du khách; (2) Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái tự nhiên và tính đa dạng sinh học; (3) Tôn trọng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương; (4) Tạo việc làm, tăng thu nhập và chia sẻ lợi ích kinh tế công bằng cho cư dân bản địa.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Thủy đã hệ thống hóa cơ sở khoa học và đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng hoạt động du lịch Trekking tại VQG Hoàng Liên dưới góc độ du lịch sinh thái. Thông qua việc phân tích các chỉ số về tài nguyên tự nhiên, nhân văn, nhân lực và luồng khách năm 2009, công trình đã chỉ rõ tiềm năng to lớn cùng những bất cập trong công tác quản lý và khai thác tự phát. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần định hướng phát triển loại hình Trekking theo hướng bền vững, hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao đời sống cộng đồng dân tộc bản địa.