CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI 1. KHÁI NIỆM, CÁC HÌNH THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Khái niệm, ý nghĩa của ngành du lịch 1. Khái niệm về du lịch Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới.
Du lịch góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngườidân… Quan niệm về du lịch luôn là một vấn đề được tranh luận trong thời gian dài. Đã có nhiều quan niệm khác nhau về khách du lịch. Tuy nhiên, về cơ bản chúng còn phiến diện và chưa phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm. Một số mới chỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch, hoặc bóc tách du lịch khỏi các chức năng KT-XH…Năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Thống kê Liên hợp quốc (UNSC) đã công nhận thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch: - Khách du lịch quốc tế (International tourist) gồm khách du lịch đến- những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia;và khách du lịch ra nước ngoài - những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài.
- Khách DL trong nước gồm những công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi DL trong nước. Từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch - International Union of Official Travel Organization (IOUTO) năm 1925 tại Hà Lan, khái 13 niệm du lịch được hiểu khá rộng như sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trứ thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hóa kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa “ Về bản chất, hoạt động kinh doanh du lịch là tổng hòa mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế của hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển đồng bộ sản phẩm hàng hóa du lịch và quá trình trao đổi mua và bán hàng hóa du lịch trên thị trường. Sự vận hành kinh doanh du lịch là lấy tiền tệ làm môi giới, tiến hành trao đổi sản phẩm du lịch giữa người mua (du khách) và người bán (nhà kinh doanh du lịch), sự vận hành này lấy vận động mâu thuẫn giữa hai mặt cung cấp và nhu cầu du lịch làm đặc trưng chủ yếu. Trong điều kiện thị trường, việc thực hiện thông suốt hoạt động kinh doanh du lịch được quyết định bởi sự điều hòa giữa hai đại lượng cung và cầu du lịch.
Sản phẩm hàng hóa trao đổi giữa hai bên cung cầu trong du lịch không phải là vật cụ thể, cái mà du khách có được là cảm giác, thể nghiệm hoặc hưởng thụ, vì thế trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, giao lưu hàng hóa và giao lưu vật là tách rời nhau. Sự trao đổi sản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên cung cầu du lịch tiến hành không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời sản phẩm du lịch tại nơi du lịch. Cùng một sản phẩm du lịch vẫn bán được nhiều lần cho nhiều du khách khác nhau sử dụng, sản phẩm du lịch chỉ tạm thời chuyển dịch quyền sử dụng, còn quyền sở hữu vẫn nằm trong tay người kinh doanh, đây chính là đặc điểm cơ bản của kinh doanh du lịch. Ý nghĩa kinh tế và xã hội của du lịch a- Về mặt kinh tế: Du lịch là một trong những dịch vụ được chú ý nhất hiện nay, phát triển 14 sôi nổi, mạnh mẽ ở cả hai lĩnh vực: Lữ hành và Nhà hàng – khách sạn.
Việt Nam - vốn được đánh giá là có nhiều lợi thế vượt trội về tự nhiên cũng như giá trị phi vật thể.có tiềm năng du lịch rất lớn và thực tiễn đã chứng minh điều đó, khi du lịch là một trong những ngành dịch vụ đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch ngày càng rõ nét, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho xã hội. Du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, mở rộng giao lưu văn hoá và nâng cao dân trí, phát triển nhân tố con người. Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội.
Năm 1990 thu nhập du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2016, tổng thu nhập ước đạt 70.000 tỷ đồng, gấp trên 50 lần. Điều này đã cho thấy tiềm năng phát triển cho ngành Du lịch tại Việt Nam. Xu hướng du lịch đã và đang phát triển mạnh tại Việt Nam, bao gồm cả khách du lịch nội địa và quốc tế. Từ 1990 đến 2016 lượng khách du lịch luôn duy trì được mức tăng trưởng với 2 con số.
Khách du lịch quốc tế tăng 17 lần từ 250. Khách du lịch nội địa ước tăng 20 lần, từ 1 triệu lượt năm 1990 lên khoảng 20,5 triệu lượt năm 2016. Số lượng người Việt Nam đi du lịch nước ngoài ngày càng tăng. Các khách sạn, nhà hàng, công ty lữ hành ngày càng tăng nhanh cả về số lượng và quy mô, chính là dấu hiệu cho thấy ngành du lịch ngày càng phát triển và tạo ra nhiều việc làm cho xã hội.
Tính đến hiện nay, cả nước đã có hơn 11.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 758 doanh nghiệp lữ hành quốc tế; hơn 10 nghìn doanh nghiệp lữ hành nội địa. Trong đó, số lượng cơ sở kinh doanh du lịch tư nhân, cổ phần và hợp tác xã chiếm tỷ trọng lớn, xu hướng phát triển mạnh. Ngoài ra, còn có hàng nghìn hộ tư nhân kinh doanh du lịch hoạt động ở hầu hết các địa phương trong cả nước. b- Về xã hội – văn hóa: Du lịch tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt nạn thất nghiệp, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, TTATXH, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.
Du lịch góp phần phục 15 hồi và giữ gìn sức khỏe, tăng cường sức sống, kéo dài tuổi thọ, làm tăng khả năng lao động của con người, nâng cao hiệu quả lao động. Hoạt động du lịch làm tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng, thông qua hoạt động du lịch người dân và khách du lịch hiểu biết thêm về truyền thống dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Hoạt động du lịch góp phần khôi phục và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc, làm tăng thêm vốn sống và hiểu biết của du khách. c- Về phát triển bền vững: Dịch vụ du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, nhưng khi nền kinh tế thấp kém thì cho dù nguồn tài nguyên du lịch có phong phú đến đâu cũng khó có thể phát triển được vì khi đi du lịch khách có nhu cầu sử dụng các loại hàng hóa có chất lượng cao hiện đại.
Du lịch góp phần bảo tồn và khẳng định giá trị của các di sản tự nhiên quan trọng, phát triển các khu bảo tồn, các vườn quốc gia, bảo vệ các loại động vật hoang dã, quý hiếm đáp ứng nhu cầu tham quan của khách du lịch. Du lịch góp phần bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Du khách có thể tham gia vào các hoạt động làm sạch môi trường và cung cấp các sáng kiến và bảo vệ môi trường thông qua việc kiểm soát chất lượng không khí, đất, nước, rác thải, thông qua quy trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và bảo dưỡng công trình kiến trúc. Hoạt động du lịch là cầu nối hòa bình giữa các dân tộc.
Du lịch giúp mọi người xích lại gần nhau hơn củng cố tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc. Như các cuộc viếng thăm lại chiến trường xưa của cựu chiến binh Pháp, Mỹ, sau khi trở về nước họ, họ trở thành những thành viên tích cực tuyên truyền, xây dựng, vun đắp tình hữu nghị. Có thể nói khách du lịch là những sứ giả hòa bình. Các loại hình du lịch Hoạt động du lịch có thể phân loại thành các nhóm khác nhau.
a- Căn cứ vào đặc điểm của môi trường tài nguyên du lịch, hoạt động du 16 lịch chia làm hai nhóm lớn là du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên. Du lịch văn hóa diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn. Đây là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn, thu hút khách du lịch bởi tính phong phú độc đáo, tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó, bao gồm các công trình và các di tích lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán… Ngược lại du lịch thiên nhiên diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về tìm hiểu giới tự nhiên của con người. Trong số các loại hình du lịch thiên nhiên có thể kể đến loại hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch thôn quê, … Du lịch thiên nhiên được coi là loại hình du lịch đưa khách về những nơi có điều kiện môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của họ.
b-Căn cứ vào mục đích của chuyến đi, có thể chia thành các loại hình du lịch với mục mục tiêu chủ yếu khác nhau, như: + Du lịch tham quan, nghỉ dưỡng + Du lịch thể thao ; Du lịch khám phá, giải trí. + Du lịch lễ hội, tôn giáo, + Du lịch nghiên cứu (học tập), du lịch hội nghị, + Ngoài ra còn có du lịch chữa bệnh, du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh – đây là những hình thức du lịch kết hợp. Trên thực tế, có những chuyến đi của con người mang mục đích thuần túy du lịch, tức là chỉ nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, hoặc cũng có những chuyến đi không phải thuần túy du lịch mà còn vì mục đích học tập, công tác, hội nghị hội thảo, tôn giáo… Trong những chuyến đi tuy không phải du lịch thuần túy nhưng người ta vẫn cần sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống tại khách sạn, nhà nghỉ, và tranh thủ thời gian rảnh rỗi để thăm quan, nghỉ ngơi nhằm thẩm nhận những giá trị của thiên nhiên và đời sống văn hóa tại nơi đến.