Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Duyên lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội” xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội và thực tiễn phát triển ngành du lịch Việt Nam:

  • Lý do chọn đề tài: Việt Nam sở hữu tiềm năng du lịch phong phú nhờ cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa của 54 dân tộc. Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường cùng tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, di sản văn hóa đứng trước nguy cơ mai một và biến đổi nhanh chóng. Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong xu thế giao lưu hội nhập, Nhà nước và ngành du lịch đã chủ trương đầu tư xây dựng Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (viết tắt là Làng VHDL các DTVN) tại Đồng Mô, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Điểm đến này sở hữu vị trí kết nối thuận lợi với tuyến Láng – Hòa Lạc kéo dài, gần sân golf Đồng Mô, làng cổ Đường Lâm và Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Dù chính thức khai trương từ ngày 19/9/2010 và đã tổ chức một số sự kiện văn hóa lớn, hoạt động du lịch tại đây vẫn chưa khai thác tương xứng với tiềm năng, hệ thống hạ tầng - kỹ thuật thiếu đồng bộ, công tác thu hút khách còn bộc lộ nhiều hạn chế.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Khóa luận xác định ba mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá một cách tương đối và đầy đủ về tiềm năng phát triển du lịch tại Làng VHDL các DTVN.
    2. Khái quát về thực trạng hoạt động du lịch tại Làng VHDL các DTVN, từ đó chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế trong việc phát triển các hoạt động du lịch tại đây.
    3. Đưa ra các khuyến nghị nhằm khai thác du lịch một cách có hiệu quả hơn nữa tại Làng VHDL các DTVN trong thời gian tới.
  • Ý nghĩa nghiên cứu: Đóng góp cơ sở đánh giá khách quan về thực trạng khai thác du lịch, cung cấp các gợi ý quản trị và tổ chức sự kiện cho Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN, đồng thời hỗ trợ định hướng phát triển du lịch địa phương Sơn Tây nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quy hoạch không gian, công tác quản lý và các hoạt động du lịch tại Làng VHDL các DTVN.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Khu vực Làng VHDL các DTVN tại hồ Đồng Mô, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
    • Thời gian: Giai đoạn từ thời điểm công trình chính thức khai trương (ngày 19/9/2010) đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2013).

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

  • Khung tham chiếu và mô hình nghiên cứu: Tác giả tiến hành so sánh đối chiếu mô hình Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam (tên viết tắt quốc tế: Vinaculto) với các mô hình tương đồng tại khu vực châu Á. Tại Trung Quốc và Campuchia, các làng văn hóa chủ yếu sử dụng diễn viên đóng thế để tái hiện cuộc sống nông nghiệp, làng nghề và biểu diễn nghệ thuật. Ngược lại, mô hình tại Malaysia, Indonesia và Việt Nam ưu tiên sự tham gia của chính các chủ thể văn hóa bản địa nhằm truyền dạy, trình diễn và giới thiệu di sản gốc.
  • Cơ sở pháp lý và văn bản quản lý nhà nước: Đề tài tổng hợp hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ hình thành dự án, bao gồm:
    • Công văn số 4375/KG ngày 26/9/1992 của Văn phòng Chính phủ về việc kết hợp mục đích du lịch vào dự án.
    • Công văn số 3387.VX/UB ngày 19/10/1992 của Bộ Văn hóa Thông tin và UBND thành phố Hà Nội báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
    • Quyết định số 503 TC/QĐ ngày 05/4/1993 của Bộ Văn hóa Thông tin về việc thành lập Ban chuẩn bị đầu tư.
    • Quyết định số 667/TTg ngày 21/8/1997 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể dự án.
    • Quyết định số 1151/QĐ-BXD ngày 26/8/2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu các làng dân tộc.
    • Quyết định số 6630/QĐ-BVHTT ngày 19/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin phê duyệt đề án tổng thể phát triển giai đoạn 2006–2010.
    • Quyết định số 95/2008/QĐ-TTg ngày 10/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định nhiệm vụ, cơ cấu của Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN.
    • Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 17/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ lấy ngày 19/4 hằng năm là “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam”.
    • Quyết định số 276/QĐ-LVH ngày 26/11/2008 điều chỉnh quy hoạch chi tiết Khu các làng dân tộc; Quyết định số 167/2009/QĐ-LVH và Quyết định số 143/2009/QĐ-LVH ngày 23/7/2009 quy định cơ cấu các đơn vị trực thuộc.
    • Quyết định số 108/QĐ-BVHTTDL ngày 10/01/2013 về tổ chức Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp điều tra thực địa: Quan sát hiện trường, khảo sát các hạng mục công trình tại Đồng Mô và tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương, thành viên Ban Quản lý Làng.
    • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Khai thác tư liệu từ giáo trình, sách báo, tạp chí chuyên ngành du lịch, cổng thông tin điện tử, báo cáo hành chính của chính quyền địa phương và các ấn phẩm của Ban Quản lý Làng.
    • Phương pháp phân tích tổng hợp: Xử lý số liệu, phân loại nguồn tư liệu để đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng, năng lực đón tiếp và hiệu quả các sự kiện văn hóa.
  • Nguồn dữ liệu: Hồ sơ lưu trữ quy hoạch của Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN, báo cáo thống kê cơ sở lưu trú năm 2012 của Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch thị xã Sơn Tây, tài liệu của các liên danh tư vấn quy hoạch (Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn, Viện Thiết kế công trình Văn hóa, Công ty Goh Hock Guan and Associates).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam - Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội

Chương này trình bày lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và quy hoạch không gian chi tiết của dự án:

  • Quá trình hình thành: Khởi đầu từ ý tưởng cuối năm 1988 – đầu năm 1989 về một làng nhỏ bên hồ Tây; đến năm 1997 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể tại Quyết định 667/TTg; ngày 03/10/1999 chính thức khởi công xây dựng tại Đồng Mô; giai đoạn 2005–2007 tổ chức 17 hội thảo khoa học để lấy ý kiến chủ thể văn hóa; năm 2008 nhận chuyển giao Nông trường Đồng Mô và hoàn tất giải phóng mặt bằng; ngày 19/9/2010 chính thức khai trương một phần công trình.
  • Tổ chức bộ máy: Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, là cơ quan tương đương tổng cục, đơn vị dự toán cấp 1. Lãnh đạo Ban gồm Trưởng ban Hồ Anh Tuấn (Thứ trưởng Bộ VHTTDL) và 3 Phó Trưởng ban (Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Hữu Thinh, Lâm Văn Khang). Cơ cấu bao gồm các đơn vị tham mưu (Văn phòng, Ban Tổ chức cán bộ, Ban Kế hoạch - Tài chính, Ban Đối ngoại và Xúc tiến đầu tư, Ban Quy hoạch, Kiến trúc và Môi trường, Ban Nghiệp vụ văn hóa dân tộc, Thanh tra) và các đơn vị sự nghiệp (Trung tâm Thông tin - Dữ liệu, Ban Quản lý Khu các làng dân tộc, Tạp chí Làng Việt, các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng 307, 195, hạ tầng kỹ thuật chung).
  • Quy hoạch chi tiết tổng thể (1.500 ha): Được phân chia thành 7 khu chức năng cụ thể:
Khu chức năng Diện tích Chỉ tiêu quy hoạch Đặc điểm và phân khu chính
Khu các làng dân tộc 198,61 ha Mật độ XD: 11,3%; Tầng cao TB: 1,1 tầng Gồm 4 cụm làng: Cụm I (28 dân tộc Việt Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ); Cụm II (18 dân tộc Trường Sơn, Tây Nguyên); Cụm III (14,91 ha, gồm 4 dân tộc Chăm, Khơ me, Chơ Ro, Chu Ru với Tháp Chăm và Chùa Khơ me); Cụm IV (Kinh, Hoa, Ngái, Sán Dìu).
Khu Trung tâm văn hóa và khu vui chơi giải trí 125,22 ha Kết nối cổng chính Khu phức hợp vui chơi giải trí, biểu diễn nghệ thuật, thể thao gắn mặt nước (đang kêu gọi đầu tư).
Khu Di sản văn hóa thế giới 46,50 ha Mật độ XD: $\le$ 23%; Tầng cao TB: 1,7 tầng Tái hiện thu nhỏ các công trình kiến trúc thế giới như Vạn Lý Trường Thành, tháp Eiffel, Kim tự tháp (đang kêu gọi đầu tư).
Khu công viên bến thuyền 341,53 ha 310,04 ha mặt nước hồ; 31,49 ha đất (mật độ XD $\le$ 20%) Tổ chức thể thao, dịch vụ du lịch gắn với cổng B của Làng.
Khu cây xanh mặt nước hồ Đồng Mô 600,90 ha Ranh giới cốt nước +20,0 m Không gian sinh thái cảnh quan, cân bằng môi trường.
Khu dịch vụ du lịch tổng hợp 138,89 ha Mật độ XD: $\le$ 23%; Tầng cao TB: 3,5 tầng Khu phức hợp nghỉ dưỡng, thể thao, khách sạn, biệt thự cao cấp.
Khu quản lý điều hành văn phòng 78,50 ha Khu 1: 10,53 ha ($\le$ 22%, 3 tầng); Khu 2: 67,97 ha ($\le$ 28%, 6 tầng) Khu 1 là trung tâm hành chính; Khu 2 là nhà công vụ, nơi ăn ở của đồng bào dự lễ hội và đón tiếp đoàn khách.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích hiện trạng cơ sở hạ tầng, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và tổng thuật các sự kiện văn hóa du lịch tiêu biểu đã được tổ chức:

  • Hạ tầng kỹ thuật khu vực Sơn Tây và Làng VHDL:
    • Giao thông: Tuyến đường Láng – Hòa Lạc kéo dài tiếp giáp cổng chính ở phía Tây Nam; Quốc lộ 21 kết nối cổng phụ ở phía Đông Bắc; phía Bắc có cảng đường sông trên địa bàn thị xã Sơn Tây. Mạng lưới nội bộ có tuyến đường trục chính dài 9 km (mặt cắt 12,5 m), hệ thống đường cảnh quan cho người đi bộ, quy hoạch tuyến tàu du lịch trên cao (monorail) và 3 bãi đỗ xe tập trung (Bãi số 1 rộng 5 ha tại cổng chính; Bãi số 2 rộng 1,8 ha tại khu các làng; Bãi số 3 rộng 2 ha tại bến thuyền).
    • Cấp thoát nước: Nước sạch do hệ thống cấp nước sông Đà - Hà Nội cung cấp qua điểm đấu nối cách cổng Làng 4 km, bể chứa nội bộ dung tích 2.000 m³ và 2 trạm bơm lấy nước hồ Đồng Mô phục vụ tưới tiêu, cứu hỏa. Hệ thống thoát nước mưa chia thành 4 lưu vực tách biệt với hệ thống thoát nước thải. Nước thải sinh hoạt được xử lý cục bộ qua bể tự hoại trước khi dẫn về trạm xử lý chuyên biệt đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra hồ.
    • Cấp điện và thông tin liên lạc: Nguồn điện nhận từ tuyến 110 kV Hà Đông – Xuân Khanh cấp cho trạm biến áp 110/22 kV đặt ở phía Tây; phụ tải dự báo toàn Làng khoảng 124 MCA; đèn chiếu sáng sử dụng đèn thủy ngân cao áp hoặc hơi Natri. Thị xã Sơn Tây đạt mốc 20.000 máy điện thoại cố định năm 2012 (tỷ lệ 50 máy/100 dân) và 4.000 thuê bao internet.
  • Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch:
Nhóm chỉ tiêu lưu trú thị xã Sơn Tây (Năm 2012) Số liệu thống kê
Tổng số cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ) 70 cơ sở (40 khách sạn, 30 nhà nghỉ)
Khách sạn đạt chuẩn 2 sao 06 cơ sở
Khách sạn đạt chuẩn 1 sao 11 cơ sở
Tổng số phòng nghỉ 985 phòng
Tổng số giường nghỉ 2.050 giường
Tổng số lao động trực tiếp 2.400 người

Khóa luận điểm tên một số cơ sở tiêu biểu: Khách sạn Thiên Mã (24 phòng, hội trường 150 chỗ); Khách sạn Hải Cảng (nhà hàng 250 chỗ, phục vụ hơn 150 món ăn); Khách sạn Yên Bình (30 phòng, 5 tầng, chuẩn 3 sao); Khách sạn Sơn Tây (18 phòng, chuẩn 2 sao, phòng ăn 800 khách); các nhà hàng quy mô lớn như Lá cọ Minh Hoa (1.000 m², sức chứa 1.200 khách), nhà hàng Hồng Giang, Phương Kha, cùng 5 siêu thị và 13 chợ xã/phường trên địa bàn thị xã.

  • Các sự kiện văn hóa - du lịch đã triển khai (2010–2013):
    1. Lễ khai trương Làng VHDL các DTVN (19/9/2010): Diễn ra Lễ mở cổng Làng chào mừng 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, huy động gần 600 diễn viên, nghệ nhân 54 dân tộc, thu hút khoảng 3.000 du khách cùng đại diện ngoại giao từ 40 quốc gia.
    2. Festival Thanh niên và Ngày hội các dân tộc Việt Nam (17/4/2011): Thu hút hơn 300 đại biểu thanh niên, tổ chức hội thảo chuyên đề, trao học bổng Vừ A Dính cho 40 học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số và đêm hội “Sắc màu tuổi trẻ - Sắc màu đoàn kết” với 1.500 người tham dự, phát sóng trực tiếp trên kênh VTV5 và VTV6.
    3. Trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc lần thứ nhất (28/11/2011): Quy tụ 255 thí sinh của 54 dân tộc từ 63 tỉnh, thành; trình diễn hơn 100 loại trang phục nguyên bản có sự kiểm định của Viện Dân tộc học (trong đó phục dựng thành công trang phục đã mai một của người Ơ Đu, Chứt, RagLai).
    4. Liên hoan Văn hóa các dân tộc Việt Nam (18–19/4/2012): Thu hút 13 cộng đồng dân tộc từ 8 tỉnh/thành với 8 nội dung hoạt động; tổ chức Phiên chợ vùng cao phía Bắc mô phỏng chợ đá Đồng Văn; đêm nghệ thuật “Vận hội năm Rồng - Đại đoàn kết, khát vọng và thăng hoa” tại sân khấu nổi hồ Đồng Mô với hơn 100 diễn viên và 200 nghệ nhân.
    5. Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18–23/11/2012): Khánh thành quần thể Tháp Chăm xây dựng theo tỷ lệ nguyên mẫu 1:1 (được ghi nhận là 1 trong 10 sự kiện nổi bật của ngành VHTTDL năm 2012), kết hợp nghi lễ mở cửa tháp và lễ hội Ka tê của đồng bào Chăm Ninh Thuận.
    6. Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” (18–21/02/2013): Chủ tịch nước chúc Tết đồng bào các dân tộc; thực hiện lễ hạ cây nêu; tái hiện lễ hội Then của người Tày, lễ hội Pang A Nụu Ban của người La Ha, lễ hội Gầu Tào của người H’Mông và lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn.
    7. Đoàn đại biểu Đại sứ quán 15 nước và tổ chức quốc tế tham quan (19/4/2013): Khảo sát chợ vùng cao, không gian nhà H'mông, Mường, quần thể Tháp Chăm và thưởng thức chương trình nghệ thuật “Bản sắc văn hóa Việt”.
  • Đánh giá hiệu quả bước đầu: Quy tụ hơn 50 cộng đồng dân tộc sinh hoạt luân phiên; bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thông qua việc để chính chủ thể tái hiện; loại bỏ các yếu tố hủ tục, mê tín dị đoan trong lễ hội dân gian; bước đầu tạo ra điểm nhấn sinh hoạt văn hóa định kỳ tại Hà Nội.

Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam - Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội

Dựa trên cấu trúc đề tài đã công bố tại phần Mở đầu, Chương 3 dành toàn bộ dung lượng để đề xuất nhóm khuyến nghị và giải pháp quản lý:

  • Tăng cường công tác hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật chung và đẩy nhanh tiến độ xã hội hóa đầu tư tại các khu chức năng còn dang dở (Khu vui chơi giải trí, Khu Di sản thế giới, Khu dịch vụ du lịch tổng hợp).
  • Hoàn thiện mô hình tổ chức các sự kiện văn hóa du lịch theo hướng chuyên nghiệp, kết hợp chặt chẽ giữa Ban Quản lý Làng với các công ty lữ hành để xây dựng các tour, tuyến cố định kết nối với vùng du lịch Sơn Tây – Ba Vì.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác du lịch, bao gồm bồi dưỡng kiến thức văn hóa dân tộc và kỹ năng phục vụ khách cho đội ngũ cán bộ, hướng dẫn viên và đồng bào tham gia hoạt động thực địa.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu quy hoạch và pháp lý: Khóa luận đã tập hợp đầy đủ các quyết định quản lý nhà nước từ năm 1992 đến năm 2013, làm rõ hiện trạng quy hoạch của 7 phân khu chức năng trên tổng quy mô 1.500 ha tại hồ Đồng Mô với các chỉ tiêu mật độ xây dựng và tầng cao khống chế cụ thể.
  • Thống kê chi tiết thực trạng hạ tầng phụ trợ du lịch: Cung cấp bức tranh định lượng về hạ tầng du lịch thị xã Sơn Tây năm 2012 với 70 cơ sở lưu trú (985 phòng, 2.050 giường), các thông số cấp thoát nước (nhà máy nước 4,8 triệu m³, bể chứa 2.000 m³), cấp điện (trạm biến áp 110/22 kV, phụ tải 124 MCA) và 3 bãi đỗ xe tập trung.
  • Ghi nhận thực tiễn tổ chức hoạt động du lịch giai đoạn đầu (2010–2013): Khóa luận mô tả chi tiết thông số tổ chức của 7 chương trình, lễ hội quy mô quốc gia tại Làng, ghi nhận sự tham gia của hơn 50 cộng đồng dân tộc, hàng nghìn nghệ nhân, diễn viên và du khách quốc tế.
  • Đóng góp của tác giả: Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về hoạt động du lịch tại Làng VHDL các DTVN trong giai đoạn ngay sau khi khai trương, chỉ ra khoảng cách giữa quy hoạch trên giấy và thực tế khai thác dịch vụ tại hiện trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi dữ liệu thực tế chỉ giới hạn trong giai đoạn từ tháng 9/2010 đến đầu năm 2013, thời điểm Làng mới chỉ vận hành một phần nhỏ thuộc Khu các làng dân tộc, các phân khu lớn khác vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị hoặc kêu gọi vốn.
    • Số liệu khảo sát thực địa còn phụ thuộc vào phỏng vấn định tính quy mô hẹp với cán bộ quản lý và một số người dân địa phương; chưa có dữ liệu điều tra xã hội học bằng bảng hỏi định lượng trên diện rộng đối với khách du lịch.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Đo lường mức độ hài lòng và hành vi tiêu dùng của khách du lịch tại Làng khi các hạng mục hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ lưu trú nội khu hoàn thành theo mốc kế hoạch 2015.
    • Đánh giá tác động kinh tế - xã hội đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số khi họ tham gia cư trú và hoạt động du lịch thường xuyên tại Làng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học, Quản lý văn hóa; cán bộ quản lý tại các khu, điểm du lịch chuyên đề và các cơ quan quản lý di sản văn hóa.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Bảng chỉ tiêu quy hoạch không gian chi tiết của 7 phân khu chức năng phục vụ việc đối chiếu quy hoạch thực tế các thiết chế văn hóa du lịch ngoài trời.
    • Tư liệu lịch sử, pháp lý hoàn chỉnh về các giai đoạn hình thành dự án Làng VHDL các DTVN từ năm 1988 đến năm 2013.
    • Tài liệu thực tế về phương thức tổ chức, dàn dựng các sự kiện văn hóa lễ hội dân tộc có sự tham gia trực tiếp của chủ thể di sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam có tổng diện tích bao nhiêu và gồm những phân khu chức năng nào?
Theo quy hoạch, Làng có tổng diện tích 1.500 ha tại Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội), gồm 7 khu chức năng: Khu các làng dân tộc (198,61 ha), Khu Di sản văn hóa thế giới (46,50 ha), Khu Trung tâm văn hóa và vui chơi giải trí (125,22 ha), Khu công viên bến thuyền (341,53 ha), Khu dịch vụ du lịch tổng hợp (138,89 ha), Khu cây xanh mặt nước hồ Đồng Mô (600,90 ha) và Khu quản lý điều hành văn phòng (78,50 ha).

2. Vị trí pháp lý và cơ cấu bộ máy của Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN được tổ chức như thế nào?
Ban Quản lý Làng là cơ quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có vị trí tương đương tổng cục, là đơn vị dự toán cấp 1. Cơ cấu bao gồm các đơn vị tham mưu (Văn phòng, Ban Tổ chức cán bộ, Ban Kế hoạch - Tài chính, Ban Đối ngoại và Xúc tiến đầu tư, Ban Quy hoạch, Kiến trúc và Môi trường, Ban Nghiệp vụ văn hóa dân tộc, Thanh tra) và các đơn vị sự nghiệp (Trung tâm Thông tin - Dữ liệu, Ban Quản lý Khu các làng dân tộc, Tạp chí Làng Việt, các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng 307, 195, hạ tầng kỹ thuật chung).

3. Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thị xã Sơn Tây năm 2012 phục vụ Làng có quy mô ra sao?
Năm 2012, thị xã Sơn Tây có 70 cơ sở lưu trú (gồm 40 khách sạn và 30 nhà nghỉ) với 985 phòng nghỉ, 2.050 giường và 2.400 lao động trực tiếp; trong đó có 6 khách sạn đạt chuẩn 2 sao và 11 khách sạn đạt chuẩn 1 sao.

4. Điểm khác biệt cơ bản giữa mô hình Làng VHDL các DTVN với các mô hình làng văn hóa ở châu Á là gì?
Trong khi mô hình của Trung Quốc và Campuchia chủ yếu sử dụng diễn viên đóng thế để trình diễn các hoạt động văn hóa, Làng VHDL các DTVN (Vinaculto) được xây dựng theo hướng huy động chính các chủ thể văn hóa đích thực của 54 dân tộc tham gia từ khâu xây dựng, vận hành đến tổ chức lễ hội và giới thiệu di sản.

5. Công trình kiến trúc tâm linh nào tại Làng được khánh thành năm 2012 và được ghi nhận là sự kiện nổi bật của ngành du lịch?
Đó là quần thể Tháp Chăm thuộc Khu các làng dân tộc III, được xây dựng nguyên mẫu theo tỷ lệ 1:1, khánh thành vào ngày 23/11/2012 gắn liền với nghi lễ mở cửa tháp và lễ hội Ka tê của đồng bào Chăm tỉnh Ninh Thuận.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Duyên đã phác thảo toàn diện bức tranh quy hoạch không gian, cơ chế quản lý và thực trạng triển khai hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trong giai đoạn 2010–2013. Bằng các dữ liệu thực địa và số liệu hành chính cụ thể, công trình làm rõ những thành công bước đầu trong việc tổ chức các sự kiện văn hóa quy mô quốc gia song hành cùng những thách thức về cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác quản trị, khai thác các điểm đến văn hóa dân tộc tại Việt Nam.