Chương 1: Tổng quan về Làng VHDL các DTVN - Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội. Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch Làng VHDL các DTVN - Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác hoạt động du lịch tại Làng VHDL các DTVN - Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội. SV: Nguyễn Thị Duyên Page 4 “Tìm hiểu hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội” CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ LÀNG VĂN HÓA DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM - ĐỒNG MÔ, SƠN TÂY, HÀ NỘI 1.
Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam 1. Mục đích xây dựng Trải qua nhiều ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, Việt Nam tự hào là một trong những quốc gia đa dạng về sắc màu văn hóa các dân tộc. Trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay có sự chung sống của 54 tộc ngƣời, mỗi tộc ngƣời là một bức tranh đặc sắc, phong phú về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội công nghiệp hiện đại, cùng với xu thế hội nhập toàn cầu, dần dần có những tộc ngƣời ở nƣớc ta đang đứng trƣớc nguy cơ bị mai một về bản sắc văn hóa.
Vì thế, việc nghiên cứu giữ gìn bản sắc văn hóa các tộc ngƣời ở nƣớc ta từ lâu đã đƣợc các giới chức của ngành văn hóa và du lịch quan tâm tìm hiểu. Một giải pháp đƣợc đƣa ra là cần thiết phải nhanh chóng xây dựng một Khu Làng văn hóa dành riêng cho các dân tộc. Mô hình Làng văn hóa vốn không lạ trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á. Ở Trung Quốc và Campuchia, mô hình SV: Nguyễn Thị Duyên Page 5 “Tìm hiểu hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội” Làng văn hóa đƣợc vận hành dƣới dạng để ngƣời đóng thế chủ nhân ngôi làng tái hiện lại các hoạt động trong đời sống thƣờng nhật nhƣ làm nông nghiệp, làm nghề thủ công; “ngƣời dân” cũng đồng thời đóng vai trò là các hƣớng dẫn viên hƣớng dẫn khách tham quan, và tham gia trình diễn dân ca, dân vũ.
Còn ở Malaysia và Indonesia, mô hình Làng văn hóa của họ thiên về bảo tồn, truyền dạy văn hóa, nghệ thuật dân tộc với sự tham gia của các chủ thể văn hóa đích thực [26]. Tuy nhiên mô hình xây dựng Làng văn hóa ở Việt Nam có điểm khác biệt và đƣợc gọi tên là Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam (tên viết tắt là Vinaculto). Mục đích đầu tiên của việc xây dựng công trình này là nhằm biến nơi đây trở thành trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch mang tầm quốc gia. Qua việc tái hiện và giới thiệu lịch sử - văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, Làng văn hóa du lịch này sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu giao lƣu văn hóa trong nƣớc, giới thiệu về văn hóa Việt Nam với nƣớc ngoài; tăng cƣờng tính phong phú, đa dạng trong đời sống tinh thần của nhân dân thủ đô và các tỉnh thành khác.
Đây cũng sẽ là điểm tựa giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc cho nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ (ở trong nƣớc và đồng bào ở nƣớc ngoài về thăm quê hƣơng), tăng cƣờng tình đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau, giáo dục lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hƣơng đất nƣớc của công dân Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Không chỉ có vậy, việc xây dựng mô hình Làng văn hóa du lịch các dân tộc còn nhằm tạo nên một cảnh quan thiên nhiên thoáng rộng; góp phần cân bằng sinh thái cho môi trƣờng của thủ đô Hà Nội, là nơi phục vụ nhu cầu tham quan du lịch và tìm hiểu nghiên cứu của nhân dân trong nƣớc và du khách quốc tế. Hơn thế nữa, dự án xây dựng Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam còn nhằm biến nơi đây trở thành một trung tâm du lịch, dịch vụ nghỉ ngơi, vui chơi giải trí có quy mô lớn đồng bộ, tạo môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn khai thác các lợi thế sẵn có về tài nguyên văn hóa, thiên nhiên tạo động lực cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch Việt Nam. SV: Nguyễn Thị Duyên Page 6 “Tìm hiểu hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội” 1.
Quá trình xây dựng Cuối năm 1988 đầu năm 1989, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và UBND thành phố Hà Nội đã đề xƣớng xây dựng dự án Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam với định hình ban đầu đây chỉ là một dự án với một làng nhỏ với vài chục nhà bên hồ Tây. Ngày 26/09/1992, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 4375/KG nêu yêu cầu về việc cần kết hợp thêm mục đích du lịch cho Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Do đó, ngày 19/10/1992, Bộ văn hóa thông tin cùng với UBND thành phố Hà Nội gửi công văn số 3387. VX/UB báo cáo thủ tƣớng Võ Văn Kiệt và Phó Thủ tƣớng Nguyễn Khánh nội dung cuộc họp giữa Bộ văn hóa Thông tin và UBND Thành phố Hà Nội về việc thống nhất xây dựng Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Tiếp đó, ngày 05/4/1993, Bộ Văn hóa thông tin ra quyết định 503 TC/QĐ thành lập Ban chuẩn bị đầu tƣ với nhiệm vụ xây dựng đề án chung tay xây dựng Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Ban Chuẩn bị đầu tƣ đã làm việc với Hội văn hóa các dân tộc Việt Nam, Viện Văn hóa dân gian về nội dung văn hóa dân tộc của dự án và đã tổ chức “Trƣng cầu ý tƣởng” quy hoạch Làng văn hóa các dân tộc việt Nam. Ban Chuẩn bị đầu tƣ đã mời 05 đơn vị trong nƣớc và 01 đơn vị nƣớc ngoài tham vấn. Đồng thời tổ chức một số triển lãm các ý tƣởng quy hoạch để giới thiệu, xin ý kiến các nhà chuyên môn, trí thức và đông đảo nhân dân trong nƣớc về việc xây dựng thực hiện dự án tiền khả thi Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Sau đó, đơn vị đƣợc chỉ định để thực hiện dự án tiền khả thi là Ban Chuẩn bị đầu tƣ và liên danh 3 đơn vị khác là Viện Quy hoạch Đô thị- Nông thôn, Viện Thiết kế công trình Văn hóa và Công ty Goh Hock Guan and Asociates [19]. Đầu tháng 09/1995 dự án tiền khả thi đƣợc hoàn thành trình Chính phủ và Bộ Kế hoạch Đầu tƣ. Ngày 21/8/1997 Chính Phủ ra quyết định số 667/TTg do Thủ tƣớng Võ Văn Kiệt ký phê duyệt Quy hoạch tổng thể và nêu rõ tên dự án “Làng SV: Nguyễn Thị Duyên Page 7 “Tìm hiểu hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội” Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt Nam” (viết tắt Làng VHDL các DTVN) khẳng định dự án phục vụ du lịch bằng hoạt động văn hóa. Mặc dù ý tƣởng đã đƣợc thành hình từ năm 1995, nhƣng đến ngày 03/10/1999, Dự án Làng VHDL các DTVN mới chính thức đƣợc khởi công xây dựng, đánh dấu sự ra đời trên thực tế.
Ban quản lý Làng VHDL các DTVN đã nhanh chóng chuẩn bị các hạng mục đầu tƣ xây dựng, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị với các Bộ, Ngành và các đơn vị liên quan cũng nhƣ tiến hành hàng loạt các công việc cần thiết trong đó đặc biệt coi trọng công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, công tác rà phá bom mìn, khảo sát cổ học và thực hiện các dự án bƣớc đầu về hạ tầng kỹ thuật chung. Với chủ chƣơng để chủ thể văn hóa tự giới thiệu mình, tạo điều kiện để các địa phƣơng, đồng bào các dân tộc tham gia từ khâu thiết kế thi công đến quản lý vận hành, khai thác các làng, các dân tộc; Ban quản lý Làng VHDL các DTVN luôn tích cực xin ý kiến các nhà chuyên môn, nhân sĩ trí thức, già làng, trƣởng bản, các nhà quản lý về văn hóa dân tộc và kịp thời áp dụng vào công trình. Từ năm 2005-2007 cơ bản hoàn tất việc xin ý kiến chủ thể văn hóa, các cấp địa phƣơng, các cơ quan Trung ƣơng liên quan về xây dựng Khu các làng dân tộc với 17 hội nghị, hội thảo và tổ chức thành công “Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam” [19]. Tuy nhiên, do còn những bất cập tồn tại trong quá trình triển khai các dự án đầu tƣ xây dựng, lãnh đạo Ban quản lý Làng VHDL các DTVN đã chỉ đạo xây dựng lại đề án tổng thể xây dựng phát triển Làng VHDL các DTVN giai đoạn 2006-2010.
Đề án này đã đƣợc chuẩn bị công phu nhằm đề xuất với Bộ văn hóa Thông tin các giải pháp đồng bộ, tổng thể để khắc phục những vƣớng mắc tồn tại. Cuối cùng, ngày 19/8/2005, đề án đã đƣợc Bộ trƣởng Bộ Văn hóa Thông tin phê duyệt tại quyết định số 6630/QĐ- BVHTT [19]. SV: Nguyễn Thị Duyên Page 8 “Tìm hiểu hoạt động du lịch tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội” Sau khi đề án đƣơc phê duyệt, từ 2007 trở đi, Ban quản lý Làng VHDL các DTVN đã triển khai đồng bộ các giải pháp về chỉ đạo, điều hành quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản, hợp tác huy động các nguồn lực xã hội, xây dựng cơ chế ƣu đãi thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao… hƣớng tới mục tiêu khai trƣơng Làng VHDL các DTVN vào năm 2010. Trên cơ sở đó Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN đã đề xuất với Bộ VHTT và DL, UBND tỉnh Hà Tây (cũ) và Chính Phủ về việc chuyển giao Nông trƣờng Đồng Mô về trực thuộc Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN.
Theo đó đến năm 2008, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng đƣợc hoàn thiện. Bên cạnh đó, Ban quản lý Làng VHDL các DTVN đã đề xuất và xây dựng đề án về Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam và đƣợc thủ tƣớng Chính Phủ phê duyệt tại quyết định số 1668/ QĐ-TTg ngày 17/11/2008, lấy ngày 19/4 là Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam và tổ chức thành công Lễ công bố ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Làng VHDL các DTVN vào đúng ngày 19/4/2009.