Chương I, “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [16]. * Đặc tính của sản phẩm du lịch Tính tổng hợp: dịch vụ du lịch là dịch vụ trọn gói bao gồm các dịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ sung, dịch vụ đặc trưng. Dịch vụ cơ bản là những dịch vụ chính mà nhà cung ứng du lịch cung cấp cho khách hàng nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản, không thể thiếu được với khách hàng như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ phòng, dịch vụ nhà hàng, vũ trường. Tính không thể dự trữ (sản xuất song song với tiêu dùng dịch vụ du lịch): đây là một đặc điểm hết sức quan trọng thể hiện sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa.
Đối với hàng hóa vật chất thông thường thì quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau, không cùng trong một thời điểm. Còn dịch vụ du lịch thì hoàn toàn khác, 15 Luan van gần như thời gian sản xuất ra sản phẩm du lịch trùng khớp với thời gian tiêu dùng sản phẩm. Bản thân sản phẩm du lịch cũng mang tính vô hình, phi vật chất nên không thể đem sản phẩm du lịch bán từ nơi này sang nơi khác như các hàng hoá vật chất thông thường mà chúng ta vẫn luôn tiêu dùng hàng ngày. Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung - cầu cũng không thể tách rời nhau.
Vì vậy, việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong du lịch là hết sức quan trọng. Tính không thể chuyển dịch: đối với dịch vụ du lịch thì không có quyền sở hữu nào được chuyển từ người bán sang người mua. Người mua chỉ mua quyền đối với tiến trình dịch vụ. Chẳng hạn, khi đi du lịch, khách du lịch được ở trong những khách sạn sang trọng, được sử dụng phương tiện vận chuyển sang trọng để đi lại, được tham gia các trò chơi giải trí hấp dẫn, được thoải mái tắm và nghỉ ngơi trên bãi biển nhưng trên thực tế họ không có quyền sở hữu đối với chúng.
Vì các cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ nên dịch vụ du lịch thuộc loại không di chuyển được, khách muốn tiêu dùng dịch vụ thì phải đến các cơ sở du lịch. Đặc điểm này của dịch vụ du lịch đòi hỏi các cơ sở du lịch tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ để kéo được du khách đến với điểm du lịch. Tính dễ bị dao động: sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau. Một chương trình du lịch đang được tiến hành suôn sẻ, bỗng dưng bị sựng lại do nhiều nguyên nhân khác nhau như thời tiết, loạn lạc, dịch bệnh, mà chúng ta đã thấy nó diễn ra ở Hongkong thời H5N1, Bali, Phuket sau sóng thần, Jerusalem, Baghdad khi xảy ra chiến tranh.
Vì vậy, sản phẩm du lịch phải mang tính toàn diện để khi cần ta có thể thay đổi nhanh phương thức thực hiện, địa bàn hoạt động. Sản phẩm du lịch cũng dễ thay đổi do thay đổi do trào lưu du lịch. Có thể bây giờ người ta đang nô nức đi du lịch biển, nhưng đến một thời điểm nào đó người ta lại đua nhau đi du lịch núi, du lịch đồng quê hay du lịch văn hóa. Lúc này người kinh doanh du lịch cần lấy sự thay đổi nhu cầu của du khách để xây dựng chương trình và phương thức khai thác, kinh doanh du lịch.
16 Luan van Tính thời vụ: dịch vụ có đặc trưng rất rõ nét ở tính thời vụ, ví dụ các khách sạn ở các khu nghỉ mát thường vắng khách vào mùa mưa bão nhưng lại rất đông khách vào mùa khô, các nhà hàng trong khách sạn thường đông khách ăn vào buổi trưa hoặc chiều tối, hoặc các khách sạn gần trung tâm thành phố thường đông khách vào ngày nghỉ cuối tuần. Chính đặc tính mùa của dịch vụ du lịch dẫn đến tình trạng cung cầu dịch vụ mất cân đối. Vào mùa vụ du lịch, khách đông, thiếu điều kiện phục vụ dẫn đến chất lượng dịch vụ kém. Lúc ngoài mùa, khách ít gây lãng phí nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật.
Vì vậy, chúng ta cần đưa ra các chương trình khuyến mãi để khách du lịch đi vào lúc trái vụ nhằm tận dụng khả năng cung ứng của cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật [25: 53 - 55]. Cộng đồng địa phương (Local community) Cộng đồng địa phương theo nghĩa hẹp: “Một nhóm dân cư địa phương cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như các đơn vị làng (bản, buôn, sóc), xã, huyện nhất định qua nhiều thế hệ và có những đặc điểm chung về các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn, sử dụng các tài nguyên môi trường, có cùng các mối quan tâm về kinh tế - xã hội, có sự gắn kết về huyết thống, tình cảm và có sự chia sẻ về nguồn lợi và trách nhiệm trong cộng đồng” [38: 33]. Cộng đồng địa phương theo nghĩa rộng: “Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội” [38: 33]. Du lịch cộng đồng (Community based tourism) Theo Handbook (2000), Community Based Tourism: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và nâng cao quyền lực cho cộng đồng.
Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác và hỗ trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ và từ các hoạt động hỗ trợ quốc tế, nhằm mục đích khai thác bền vững các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn tại địa phương để giới thiệu tới khách du lịch” [38: 34]. 17 Luan van “Du lịch cộng đồng là loại hình, hình thái, phương thức phát triển du lịch có sự tham gia trực tiếp, chủ yếu của cộng đồng địa phương vào các giai đoạn, các khâu trong quá trình phát triển du lịch, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên môi trường, cộng động được hưởng lợi nhuận từ hoạt động du lịch” [38: 33 - 35]. “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hoá)” [36: 3]. Du lịch sinh thái (Ecotourism) Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới, đã thu hút được sự quan tâm, hiểu theo nhiều góc độ khác nhau.
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách tới những môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương. Nói một cách khác, du lịch sinh thái là loại hình du lịch với những hoạt động có sự nhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội” [12: 7]. Tại Việt Nam, du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 19 của thế kỷ 20, đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển du lịch sinh thái, Tổng Cục Du Lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN…, có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học Quốc tế và Việt Nam về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 07 đến ngày 09 tháng 09 năm 1999.
Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo là lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh ở Việt Nam, theo đó: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn 18 Luan van hoá bản địa có gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [12: 11]. Tại Khoản 19, Điều 4, Chương I của Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [16]. Hoạt động du lịch sinh thái phải đảm bảo các yếu tố: Du khách và người tham gia tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, phải có sự quan tâm và trách nhiệm với vẻ đẹp của thiên nhiên, giá trị văn hóa địa phương và môi trường. Gắn hoạt động với giáo dục môi trường tự nhiên- xã hội để nâng cao hiểu biết cho du khách về thiên nhiên-sinh thái, về các giá trị lịch sử- văn hóa truyền thống của điểm đến.
Du lịch sinh thái phải có trách nhiệm với xã hội và cộng đồng. Từ đó đề cao trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn của du khách và người tham gia hoạt động du lịch sinh thái, góp phần đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương một cách bền vững. Tài nguyên du lịch sinh thái (Ecotourism resources) Tài nguyên du lịch sinh thái là một khái niệm rất rộng bao gồm các yếu tố cơ bản để tạo nên các điểm, các tuyến hoặc khu du lịch sinh thái, có thể bao gồm: các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình do nhân loại tạo nên có thể được sử dụng để nhằm thỏa mãn cho nhu cầu về du lịch sinh thái. Tài nguyên du lịch sinh thái lấy cơ sở từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và nhân văn bản địa.
Tuy nhiên, các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể nào đó và các giá trị văn hóa nhân văn bản địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó.