phần Mở đầu , Kế t luâ ̣n, Danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , Phụ lục , luâ ̣n văn gồ m ba chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch; Chƣơng 2. Thực trạng phát triển du lịch Ninh Thuận thời gian vừa qua; Chƣơng 3. Một số giải pháp phát triển du lịch Ninh Thuận.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Lý luận chung về phát triển du lịch 1.1 Khái niệm du lịch Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Pháp “tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi. Tiếng Anh “To tour” có nghĩa là đi dã ngoại. Nói chung các từ đó đều bắt nguồn từ tiếng Latinh “Torus” hoặc tiếng Hy Lạp “Tormos” cùng với một nghĩa là đi chơi, đi dã ngoại. Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nang cao sức khỏe và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết với sự chuyển chỗ của họ.
Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, nội hàm khái niệm “du lịch” ngày càng được bổ sung, song cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm du lịch có thể xác định như sau: “Du lịch là một hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thuờng xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” ( I. Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO) đã đưa ra quan niệm: “Du lịch là những hoạt động mà mối quan hệ phát sinh do những tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình đón khách và phục vụ khách du lịch”. Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa khái niệm du lịch, tại Hội nghị Liên hiêp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế 15 bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [59,tr.12] Vào tháng 6 năm 1991, tại Otawa - Cannada, Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. Nhà nghiên cứu Trần Nhạn đưa ra một khái niệm khá toàn diện về bản chất đích thực, cơ bản của du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền”.30] Theo Điều 4 - Luật Du lịch Việt Nam (2006): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến sự phát triển các ngành kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng. Tục ngữ Việt Nam có câu “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, vận dụng kinh nghiệm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm du lịch là học tập, đi xem để mà học.
Xuất phát từ luận điểm đó, Người đã đi nhiều nơi để học hỏi. Người nói: “Tôi muốn ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [1,tr. Người thường nói: “ Trong những ngày nghỉ không nên tiêu phí tiền bạc mà nên đi du lịch để học hỏi được nhiều”.
Du lịch sinh thái "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu" (Boo,1991). Nhưng gần đây, nội dung căn bản của du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường. Quan điểm thụ động cho rằng du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ. Quan điểm chủ động cho rằng du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương.
Do đó, một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn được hình thành: "Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương". Như vậy du lịch sinh thái được hiểu là loại hình du lịch của con người liên quan đến môi trường thiên nhiên như rừng núi, vườn cây, sông suối, thác nước… Mục đích chủ yếu của con người khi thực hiện chuyến du lịch sinh thái này là thưởng thức phong cảnh thiên nhiên, thư giãn, giảm stress, phục hồi sức khoẻ… 1. Du lịch văn hóa Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục.
gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng. để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ.
Du lịch thể thao mạo hiểm Du lịch thể thao mạo hiểm là loại du lịch kết hợp những hoạt động thể thao đòi hỏi tính mạnh mẽ, dũng cảm của người tham gia. Du lịch thể thao mạo hiểm là một trong những loại hình du lịch đang thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch, đặc biệt là những khách du lịch ưa khám phá, mạo hiểm, trở về với tự nhiên. Bản chất con người là muốn khám phá những điều mới lạ từ tự nhiên và từ nền văn hoá bản địa, đặc biệt là ở những vùng xa xôi. Do đó, khi đời sống vật chất và tinh thần tương đối đầy đủ, bản chất ấy lại trỗi dậy trong mỗi con người.
Nếu như những năm trước, du lịch mạo hiểm là điều gì đó mới mẻ và lạ lẫm thì gần đây, loại hình này được giới trẻ rất ưa chuộng. Trong tương lai không xa, các loại hình du lịch mạo hiểm như đua thuyền, lướt ván, nhảy dù, dù lượn, leo núi, đua ô tô, mô tô, xe đạp, lặn biển… sẽ là điểm nhấn trong mỗi hành trình khám phá Việt Nam. Có thể nói du lịch thể thao mạo hiểm là một trào lưu mới, đưa con người vượt qua chính bản thân mình, nhận biết giới hạn của mình. Tuy nhiên, song hành với nó là sự nguy hiểm, điều đó đòi hỏi những người tham gia phải thực sự dũng cảm và có kinh nghiệm.
Những người tham gia du lịch thể thao mạo hiểm cần tích lũy nhiều kinh nghiệm và kiến thức y tế cơ bản, đặc biệt là tính kỉ luật. Các nhóm môn Thể thao mạo hiểm như lướt ván trên biển; bơi thuyền trên sông; trượt ván (Shate boarding); trượt patin; leo núi; khám phá hang động; đi bộ du lịch xuyên rừng già; BMX (= Bike Motor Cross) trò chơi mạo hiểm với xe đạp địa hình; đua mô tô… 1. Tài nguyên du lịch Khái niệm chung: Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên Trái Đất và trong điểmvũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình. Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố con người và xã hội.
18 Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Theo điểm 4, điều 4 Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) thì: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Phân loại tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật. Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học và các đối tượng văn hoá thể thao và hoạt động nhận thức khác. Tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN): TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch. Trong chuyến du lịch, người ta thường tìm đến những nơi có phong cảnh đẹp.
Phong cảnh theo một nghĩa nào đó được hiểu là một khái niệm tổng hợp liên quan đến tài nguyên du lịch.