Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài Chương 2: Mô hình cấu trúc và đặc điểm liên kết của các văn bản quảng bá du lịch Đồng Tháp. Chương 3: Đặc điểm sử dụng từ và câu trong các văn bản quảng bá du lịch. CHƯƠNG L MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ THUYÉT LIEN QUAN DEN DE TAL 1. Khái quát về văn bản 1.
Khái niệm văn bản ‘Van ban là một trong những thuật ngữ quan trọng của đơn vị ngôn ngữ. Văn bản còn chia thành nhiều kiểu khác nhau để phù hợp với mục đích phát ngôn và phong cách ngôn ngữ. Chính từ sự đa dạng này mà thuật ngữ văn bản có nhiều khái niệm khác nhau. Trên thể giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn bản.
Harweg, cho rằng : “Văn bản là chuỗi nổi tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyển của các phương tiện thế có hai trắc điện (trục dọc và trục ngang - Diệp Quang Bang)” [dẫn theo 5. khái niệm văn bản được hiểu như một tổ hợp các đơn vị ngôn ngữ có bố cục về hình thức và ý nghĩa về nội dung. Crystal thi xem văn bản như là một diễn ngôn: “Văn bản là một sản phẩm di ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết, hoặc một diễn ngôn bằng kí hiệu, được nhận dạng vì những mục đích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích ” [1, tr.
Ở Việt Nam, tác giả Diệp Quang Ban định nghĩ “Văn bản là một loại đơn vị được làm từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nh có cấu trúc, có đẻ tài. loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thu chỉ đường,.50] Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, tác giả Hà Ngọc Trạc cho rằng: “Văn bản là một phương ên truyền đạt các thông tin, quyết định từ chủ thể này sang chủ thể khác bằng một kí hiệu hay ngôn ngữ nhất định nào khác. Hay nói cách khác đi, văn bản là một dạng sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được thể hiện dạng viết trên một chất liệu nào đó (giảy, bia đá.): vẻ tập hợp các câu có tính trọn vẹn vẻ nội dung và hoàn chính vẻ hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới mục tiêu giao tiếp nhất định” [53, tr. Quan niệm này cho rằng, văn bản là một sản phẩm.
hoàn chỉnh của ngôn ngữ trong giao tiếp và hướng đến những mục dich giao tiếp rõ. 'Từ những quan niệm trên, chúng 'ho rằng, văn bản là một đơn vị thứ yếu trong giao tiếp bằng ngôn ngữ và được bao hàm những nội dung sau: ~ Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ giữa nội dung và hình thức. ~ Văn bản là một sản phẩm của ngôn ngữ được thể hiện ở dạng nói và viết dùng. để giao tiếp và thông qua từng mục đích giao tiếp dé có những loại văn bản khác nhau.
Đặc trưng văn bản Nếu xét văn bản trong quan hệ giữa nó với những yếu tổ liên quan khác thì nó. có 5 đặc trưng cơ ban sau [7, tr.54-56]: (1) Yếu tổ nội dung: nội dung của văn bản phải có đề tài và chủ đề xác định để phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp đứng cạnh nhau tạo ra chuỗi bất thường về. nghĩa (phi ngôn ngữ) không cùng một đề t ¡ thống nhất giữa các câu. (2) Yếu tổ cấu trúc: văn bản có cách tổ chức hình thức và nội dung phù hợp theo.
các phong các chức năng để có thể thức trình bày cũng như cách sử dụng ngôn từ, nội dung phù hợp theo qui định của từng loại văn bản. (3) Mạch lạc và liên kết: là sự thống nhất, liên kết nhau giữa chủ đề và đề tài trong một văn bản. (4) Yếu tố chỉ lượng: trong văn bản có nhiều câu - phát ngôn nối tiếp nhau thường xuất hiện nhiều hơn văn bản được làm từ một câu - phát ngôn. (5) Yếu tố định biên: là biên giới phía bên trái (đầu vào) và phía bên phải (đầu ra) của văn bản, dé tạo nên tính trọn vẹn cho văn bản.
Mỗi đặc trưng trong văn bản đều là một dấu hiệu nhất định có tác dụng làm cho. một khúc đoạn lời nói là văn bản. Khuôn hình (cầu trác) của văn bản 1. Khái niệm về khuôn hình văn bản Khuôn hình văn bản (còn được xem là bố cục): là kết quả của việc sắp xếp, tổ.
chức các bộ phận ngôn từ có nghĩa của văn bản theo một hình thức nhất định (4 trúc nhất định) [7, t. Nếu như xem xét khuôn hình văn bản ở chức năng tạo văn bản của các bộ phận có nghĩa thì nó bao gồm những nội dung sau: 1. Các khuôn hình văn bản: có hai loại lớn (1) Khuôn hình cố định: là loại khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn, loại như các văn bản hành chính công vụ, ngoại giao, quân sự, kinh tế,. các ví dụ cụ thể là các công văn, đơn từ, tờ khai, hợp đồng, hóa đơn, (2) Khuôn hình không cố định (khuôn hình mềm đẻo): có 2 loại nhỏ ~ Khuôn hình thường dùng: là loại khuôn hình tuy không có qui định bắt buộc, nhưng những văn bản này thường quen được tổ chức theo các qui ước (không phải là qui định) chung như vậy.
Đây là loại khuôn hình thông dụng, thường được sử dụng trong văn bản. Kết cầu của khuôn hình này gồm: Phẩn đâu đề (phân tiéu dé), Phan mo, Phần thân và Phân kết. - Khuôn hình tùy chọn (có thể gọi thêm trong luận văn này là khuôn hình khiếm. khuyết) là loại văn bản được tổ chức theo mục đích nạt 1.
Đề tai - chủ đề văn bản 1. Để tài: là vẫn đề hay hiện tượng được nói đến trong văn bản [7, tr. Chủ dé: là đối tượng và vấn đề chính mà văn bản biểu đạt, chủ đẻ thường xuất hiện ở phần tiêu đề và ở các câu văn mang nộ dung khái quát của đoạn trong từng phần của văn bản (còn gọi là câu chủ đẻ) [43, tr. Kiểu kết cấu thường gặp 1.1 Phân đầu đề (tiêu đề) Đầu đề là phần tên gọi của văn bản thể hiện nội dung hay sự phản ánh nội dung.
Đầu đề có vai trò rất quan trọng của văn bản, bởi nó là tín hiệu ban đầu sây sự thu hút, chú ý c độc giả. Có nhiều cách đặt phần đầu đẻ: -Pha lầu đề được đặt theo hướng nêu đẻ tài hay theo hướng nêu chủ đề, hay theo hai cách kết hợp vừa nêu. ~ Phần đầu đề được đặt theo lỗi phản ánh trực tiếp hay theo lỗi phản ánh gián. tiếp nội dung văn bản.
Phần đầu đề thường đặt ở đầu văn bản; có mối quan hệ chặt chẽ giữa các phần sau của văn bản, nó khái quát các nội dung các phần khác cũng như hướng các phi khác trong văn bản đi theo đúng chủ đề Phần đầu đẻ thường được đặt bằng một danh từ, cụm danh từ với nội dung rõ ràng, súc tích, gây sự tò mò, thích thú cho người đọc ở những phần sau của văn bản; hay một câu có chủ ngữ, vị ngữ (có thể đảo ngữ). Đây là dạng đầu đề thường được sử. dụng ở văn bản quảng bá du lịch.2 Phần thân Phần thân là phần trọng tâm, có nhiệm vụ triển khai đầy đủ đề tài - chủ đề theo. hướng xác định ở phần mở của văn bản.
Nội dung của phần thân thường được trình bày theo trình tự tùy thuộc vào kiểu văn bản, chủ đễ, ý đỗ giao tiếp của người viết. Nhìn chung, nội dung ấy thường được sắp xếp theo trình tự thời gian và không gian, theo sự. phát triển của sự việc hay theo mạch lạc suy luận, sao cho phù hợp với sự phát triển của sự việc hay theo mạch suy luận, sao cho phù hợp với sự triển khai chủ đề và sự tiếp. nhận của người đọc.3 Phân kết Phân kết là phần tổng kết, khái quát lại nội dung của vấn đề được đặt ra và triển khai ở phần mở và phần thân.
Hay có thể nêu thêm những ý suy nghĩ, đánh giá, nhận xét của người viết một cách ngắn gọn và khái quát nhất. Còn đối với cấu trúc của khuôn hình tùy chọn thì các phần trong cấu trúc của nó. có thể không có mặt (khiếm khuyết) hoặc có cấu trúc mở rộng hơn [7, tr. Đặc điểm chung về liên kết văn ban 1.
Khái niệm liên kết văn bản ‘Theo tac gia Tran Ngoc Thêm: “Liên kết văn bán là mối liên hệ qua lại phức tạp giữa các câu tạo nên một mạng lưới. Chính nhờ mạng lưới này mà các câu gắn bó lại với nhau. Mạng lưới các mồi liên hệ giữa các câu trong một văn bản gọi là tính liên kết cia nd. Ở khái niệm này, có thê hiểu liên kết là sự gắn kết giữa các yếu tố của văn bản nhằm tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh.
Còn tác giả Nguyễn Khắc Phi cho rằng liên kết văn bản bao gồm những đặc đẻ cơ bản như sau: “Các đoạn văn trong một văn bản cũng như các câu trong một đoạn văn phải liên kết chặt chẽ với nhau vẻ nội dung và hình thức. Š nội dung: các đoạn văn phải phục vụ chú đề chung của văn bản, các câu phái phục vụ chủ đẻ chung của văn bản, các câu phải phục vụ chủ đề của đoạn văn (lién kết chủ đẻ); các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lý. Về hình tửu các câu và các đoạn văn có thể được liên kết với nhau bằng những phép liên kết như: pháp lặp, pháp i, phép thế, phép liên tưởng, phép tuyến tinh ” [44, 11. Ở đây, tác giả Nguyễn Khắc Phi đã khái quát những đặc điểm cơ bản nhất về sự liên kết nội dung và hình thức của một văn bản.
'Theo cách hiểu thông thường: liên kết văn bản là sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ về nội dung giữa các phần, các đoạn, các câu trong văn bản; đồng thời phải có sự kết nối giữa các phản, câu, đoạn ấy bằng một phương tiện liên kết. Liên kết trong văn bản có hai loại: liên kết về nội dung và liên kết hình thức. Liên kết về nội dung là sự kết nối về đề tài, chủ đề giữa các câu đoạn trong văn bản; liên kết về hình thức là sử dụng phương tiện liên kết để kết nối các câu, các đoạn trong văn bản nhằm giúp văn bản đảm bảo ý nghĩa về một đề tài, chủ đề xuyên suốt. một văn bản, tính liên kết chiếm vai trò quan trọng, bởi nếu không có sự liên kết giữa.