chương 1) Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” 2 Pirojnik, Cơ sở địa lí dịch vụ và du lịch (Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải biên dịch), 1985, tr.57 3 Ngô Tất Hổ (Trần Đức Thanh, Bùi Thanh Hương biên dịch), Phát triển và quản lí du lịch địa phương, Nxb khoa học Bắc Kinh, 2000, tr.41 T r a n g | 13 Như vậy, tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc có mức độ tập trung cao thì có sức hấp dẫn với khách du lịch và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao. Từ những nhận xét trên, ThS. Bùi Thị Hải Yến cho rằng tài nguyên du lịch: “Là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành Du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”4 Phân loại tài nguyên du lịch: Để tiến hành nghiên cứu, quản lý, bảo tồn, tôn tạo, phát triển và khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả theo hướng bền vững, cần phải tiến hành phân loại tài nguyên du lịch khoa học và phù hợp.
Việc phân loại tài nguyên du lịch tuân theo những tiêu chí nhất định, tùy theo mỗi quốc gia có nhiều cách phân loại khác nhau, đảm bảo cân bằng giữa quy hoạch bảo tồn và phát triển du lịch. Tổ chức Du lịch thế giới (1997) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: Loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vạn động); loại cung cấp hiện tại (gồm 3 loại và 9 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kỹ thuật gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực. Tuy nhiên, ở đề tài này, tác giả căn cứ vào Luật du lịch Việt Nam để phân loại tài nguyên du lịch. Theo đó, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên Khái niệm: Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. (Khoản 1, Điều 13, Chương 2, Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005) 4 Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), Phạm Hồng Long, Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.19- 20 T r a n g | 14 Đặc điểm: Tài nguyên du lịch tự nhiên có thể được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm nếu quá trình quy hoạch bảo vệ, khai thác hợp lí và hướng tới sự phát triển du lịch bền vững. Tài nguyên du lịch thiên nhiên chịu ảnh hưởng và bị chi phối bởi đặc điểm thời tiết và khí hậu. Nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên thường nằm cách xa khu dân cư.
- Tài nguyên du lịch nhân văn Khái niệm: Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Phân loại: Tài nguyên du lịch nhân văn được chia làm 2 loại là tài nguyên du lịch nhân văn vật thể (các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷ niệm, bảo vật quốc gia). Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể (các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán,…) Đặc điểm: Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thời gian, thiên nhiên và do chính con người. Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người.
Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những đặc sắc riêng tạo nên sức hấp dãn đối với khách du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn là sản phẩm do con người tạo ra nên phân bố gần khu dân cư gắn liền với sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng. T r a n g | 15 Tiểu kết: Với đề tài của chúng tôi tập trung tìm hiểu về múa rối nước – một loại hình sân khấu dân gian đặc sắc của Việt Nam. Theo định nghĩa trên về tài nguyên du lịch, đặc biệt tài nguyên du lịch nhân văn, chúng tôi nhận thấy rằng múa rối nước là một sản phẩm tuyệt vời do người Việt sáng tạo ra, là một nét đặc trưng của Việt Nam hấp dẫn khách du lịch.
Vì vậy, chúng tôi làm đề tài về khai thác múa rối nước trong hoạt động kinh doanh du lịch sẽ góp phần khai thác có hiệu quả một loại hình nghệ thuật dân gian và giới thiệu về múa rối nước đến với bạn bè quốc tế. Nghệ thuật múa rối nƣớc 1. Khái niệm múa rối nƣớc Múa rối nước có nhiều cách hiểu, cách giải thích khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm và cách tiếp cận mà nảy sinh các quan niệm, khái niệm khác nhau về múa rối nước. Dưới đây là khái niệm của một số tác giả mà nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu và nghiên cứu được: Theo Tô Sanh: “Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu mà chỗ diễn của con rối là mặt nước ao, hồ hay bể rộng.
Buồng trò của người điều khiển là một cái nhà cất giữa ao hồ hoặc sát một mé hồ. Người điều khiển ngâm mình dưới nước nấp sau bức mành điều khiển con rối, thông thường bằng gỗ hoặc bằng chất liệu không thấm nước, bằng cách giật dây hoặc khua sào có đính con rối ở dây và đầu sào. Nước che kín các loại que, dây, máy điều khiển bên dưới nước. Múa rối nước là một bộ môn nghệ thuật sân khấu nước kỳ lạ chỉ còn thấy ở Việt Nam” 5 Theo Hoàng Kim Dung: “Rối nước thực chất là loại rối máy, rối dây diễn trên mặt nước, là một nghệ thuật độc đáo của Việt Nam.
Chỉ có ở Việt Nam mới có loại hình nghệ thuật này” 6 5 Tô Sanh, Nghệ thuật múa rối nước, Nxb Văn hóa Hà Nội, 1976, tr. 6 Hoàng Kim Dung, Về nghệ thuật múa rối, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 3/1993. T r a n g | 16 Theo Lý Khắc Cung: “Múa rối nước là sản phẩm của nhân dân lao động Việt Nam trong một thời gian lịch sử nhất định. Nó thuộc loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống phản ánh tâm tư, tình cảm của cộng đồng” 7 Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chấp nhận khái niệm múa rối nước của Tô Sanh, như một khái niệm mang tính tương đối hoàn chỉnh để làm căn cứ tiếp tục phát triển những lí luận của mình.
Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật múa rối nƣớc Việt Nam Ngược dòng lịch sử tìm hiểu về sự ra đời và phát triển của loại hình nghệ thuật này, qua một số những công trình nghiên cứu của những nghệ sĩ, nhà nghiên cứu về nghệ thuật múa rối nước thì múa rối nước ở Việt Nam đã có từ lâu đời trong lịch sử, gắn liền với nền văn minh lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ. Trần Văn Khê và nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng thì nguồn gốc xuất xứ múa rối nước cho đến nay chưa ai biết chính xác. Nhiều nghệ nhân lão thành đã có nhắc lại theo trí nhớ về nguồn gốc ra đời của múa rối nước nhưng chưa có đủ căn cứ và số liệu chính xác để khẳng định tính đúng đắn của nó. Tuy nhiên một căn cứ mà thường hay nhắc đến khi nói về nguồn gốc múa rối nước đó là từ bia “Sùng Thiện Diên Linh” của thời đại nhà Lý mà hiện nay đang được đặt tại chùa Long Đọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Bia “Sùng Thiện Diên Linh” tên đầy đủ là tấm bia “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh” do Nguyễn Công Bật – Thượng thư bộ hình của vua Lý Nhân Tông viết ra và dâng lên vua năm 1121. Nếu căn cứ vào bia đó thì múa rối nước ra đời vào thế kỉ XII, nhưng lại mâu thuẫn với lời văn trong bia “sau khi thể nghiệm lâu đời, thấy trò này rất vui nên mới dâng lên vua xem ở tại sông Lô”, nếu đã thể nghiệm lâu đời thì múa rối nước có thể có trước thế kỉ XI hoặc XII.8 7 Lý Khắc Cung, Chân dung nghệ thuật múa rối nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2006. 8 Hoàng Chương, Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển múa rối nước dân gian, Công trình NCKH cấp Bộ, 2005 – 2006. T r a n g | 17 Trong khi ở Trung Quốc có cuốn sách nói về các loại múa rối nước mà người Trung Quốc gọi là “Xuẩy quẩy lỳ” và kết luận rằng hình thức múa rối nước này xuất hiện từ thời nhà Tống (thế kỉ IX), trước thời nhà Lý ở Đại Việt.
Chính vì thế có nhiều người lập luận rằng múa rối nước của Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc. Nhưng có một điều cần phải khẳng định, nếu múa rối nước từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam thì phải thông qua triều đình rồi mới đưa xuống dân gian nhưng ở đây ngược lại, múa rối nước Viêt Nam lại từ dân gian dâng lên cho vua, tức gốc là từ dân gian, mà trong dân gian thì không thể nhập từ Trung Quốc sang được. Chính vì lẽ đó múa rối nước chỉ có thể là do người nông dân Việt Nam sáng tạo ra rồi dâng truyền lên cho nhà vua, không thể nào do người Trung Quốc sáng tạo ra rồi truyền sang nước ta.