Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan những vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững 1. Phát triển bền vững 1. Phát triển du lịch bền vững 1.
Nguyên tắc cơ bản trong phát triển du lịch bền vững 1. Các dấu hiệu nhận biết phát triển du lịch bền vững 1. Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch bền vững 1. Trên thế giới 1.
Tại Việt Nam 1. Một số vấn đề về khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính 1. Lịch sử hình thành và phát triển quần thể chùa Bái Đính 1. Các nghiên cứu về khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính Chƣơng 2: Địa điểm, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu 2.
Địa điểm nghiên cứu 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Các phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3. Tiềm năng du lịch ở khu quần thể tâm linh chùa Bái Đính 3.
Hiện trạng phát triển du lịch tại khu quần thể tâm linh chùa Bái Đính 3 z 3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới phát triển du lịch bền vững tại khu quần thể du lịch tâm linh chùa Bái Đính 3. Các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu quần thể tâm linh chùa Bái Đính Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững 1. Phát triển bền vững Phát triển đƣợc xem là một quá trình tăng trƣởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá…Phát triển là xu hƣớng tự nhiên tất yếu của thế giới vật chất nói chung, của xã hội loài ngƣời nói riêng. Phát triển kinh tế- xã hội là quá trình nhằm nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con ngƣời thông qua phát triển lực lƣợng sản xuất, quan hệ sản xuất, nâng cao các giá trị văn hoá cộng đồng [4, 5, 8]. Bên cạnh những lợi ích xã hội, nâng cao điều kiện sống cho con ngƣời, hoạt động phát triển cũng đã và đang làm cạn kiệt tài nguyên, gây ra những tác động tiêu cực làm suy thoái môi trƣờng.
Trƣớc thực tế đó, con ngƣời nhận thức đƣợc nguồn tài nguyên của Trái đất không phải là vô hạn, không thể tuỳ tiện khai thác. Bởi nếu quá trình này không kiểm soát đƣợc sẽ dẫn đến hậu quả không chỉ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên mà còn làm mất cân bằng về môi trƣờng gây ra những hậu quả môi trƣờng nghiêm trọng ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình phát triển của xã hội qua nhiều thế hệ…Từ nhận thức này xuất hiện một khái niệm mới của con ngƣời về hoạt động phát triển, đó là “Phát triển bền vững”. Lý thuyết phát triển bền vững xuất hiện khoảng giữa những năm 80 và chính thức đƣợc đƣa ra tại Hội nghị của Uỷ ban Thế giới về Phát triển và môi trƣờng (WCED) nổi tiếng với tên gọi Uỷ ban Brundtlant năm 1987. Theo định nghĩa Brundtlant thì “Phát triển bền vững đƣợc hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng đƣợc các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau” [4, 7, 8].
Tại hội nghị thƣợng đỉnh thế giới 1992 ở Rio de Janerio, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội và môi trƣờng cùng các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của mỗi quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận thông qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về PTBV và CTNS21. Tại hội nghị về Môi trƣờng toàn cầu RIO 92+5, quan niệm về phát triển bền vững đƣợc các nhà khoa học bổ sung, theo đó “Phát triển bền vững đƣợc hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tƣơng tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội” [4, 8]. Mô hình về phát triển bền vững [8] Nhƣ vậy phát triển bền vững là kết quả tƣơng tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của 3 hệ thống nói trên, đồng thời xác định phát triển bền vững không cho phép con ngƣời vì sự ƣu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với các hệ khác, hay nói cụ thể hơn thì phát triển bền vững là sự dung hoà các tƣơng tác và sự thoả hiệp giữa 3 hệ thống nói trên nhằm: - Tăng cƣờng khả năng tham gia có hiệu quả của cộng đồng vào những quyết định mang tính chất chính trị trong quá trình phát triển xã hội. - Tạo ra những khả năng nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế mà không làm suy thoái tài nguyên qua việc áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật.
- Giải quyết các xung đột trong xã hội do phát triển không cân bằng. Ở Việt Nam lý luận về phát triển bền vững cũng đã đƣợc các nhà khoa học, lý luận quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu về lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững, đối với những hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Là một quốc gia có diện tích tự nhiên vào loại trung bình trên thế giới, trong đó 3/4 là địa hình núi đồi với hơn 3.200km bờ biển, trải dài trên 15 vĩ tuyến, Việt Nam có tiềm năng tự nhiên và môi trƣờng phong phú. Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng Việt Nam đã bị khai thác không bền vững.
Trƣớc tình hình đó, việc nghiên cứu lý luận làm cơ sở để phân tích đƣa ra các giải pháp đảm bảo sự phát triển bền vững phù hợp với đặc điểm Việt Nam là hết sức cần thiết và cấp bách [7, 8]. Điều này một lần nữa lại đƣợc khẳng định trong Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014 đƣợc Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, trong đó có nêu rõ: “Phát triển bền vững 6 z là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến xã hội và bảo vệ môi trường”. Phát triển du lịch bền vững [6, 8,14] Khái niệm về du lịch: Tùy theo quan điểm và mục đích nghiên cứu mà ngƣời ta đƣa ra những khái niệm khác nhau về du lịch. Tuy nhiên, hiện tại có một số khái niệm về du lịch đang đƣợc chấp nhận một cách rộng rãi.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch đã đƣa ra định nghĩa về du lịch nhƣ sau: "Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình". Các thành viên của Liên hợp quốc cũng nhất trí rằng, nơi đến của địa điểm du lịch phải khác nơi con ngƣời lƣu trú. Sau này, tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) khẳng định du lịch là "bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa". Nhƣ vậy, định nghĩa này chỉ ra rõ ràng hơn các mục đích của du lịch với con ngƣời, nhƣng đồng thời, khẳng định một điểm mới, đó là các hoạt động du lịch phải diễn ra "trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm".
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) thì "du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định". Đây là khái niệm mang tính chất pháp lý và đƣợc chấp nhận tại Việt Nam. Quan điểm của Luật du lịch Việt Nam và Tổ chức Du Lịch thế giới có sự tƣơng đồng khi cho rằng hoạt động du lịch diễn ra khi con ngƣời di chuyển khỏi nơi ở của mình nhằm thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích cá nhân nhƣng không vì mục đích kiếm tiền. Khái niệm về du lịch tâm linh: Hiện tại ở Việt Nam chƣa có khái niệm cụ thể về du lịch tâm linh.
Trong Luật du lịch Việt Nam 2005 cũng chƣa đề cập đến loại hình du lịch này. Để hiểu rõ khá niệm về du lịch tâm linh, chúng ta phải hiểu đƣợc tâm linh là gì. Van Kamm (1986) khẳng định rằng “tâm linh” là những trải nghiệm của con ngƣời trong “sự hòa hợp về ý thức với thế lực siêu nhiên”cùng với “tình cảm thiêng liêng” mang lại cho con ngƣời những giá trị về mặt tinh thần nhƣ sự tự tin, mang lại 7 z cách nhìn nhận mới về cuộc sống, sự hài hòa và bình an trong tâm hồn. Ngoài ra, Van Kamm cũng cho rằng “tâm linh” cũng đề cập đến những câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cho phép con ngƣời có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống.
Trong khi đó, trong khái niệm “tâm linh” của Hawks (1994), ông đề cập đến niềm tin, “đức tin” cao cả của cá nhân vào các “giá trị sống” nhằm hƣớng đến “sự hoàn thiện”. Cá nhân không tách biệt khỏi thế giới mà “kết nối đồng nhất” với tự nhiên, với những ngƣời xung quanh. “Tâm linh là những trải nghiệm cá nhân siêu việt như là những trải nghiệm trực giác, tâm hồn, một sự mở rộng về ý thức vượt xa hơn ranh giới của cái tôi và vượt ra cả giới hạn về thời gian và không gian”, theo ý kiến của Grof (1976). Từ các định nghĩa trên, tâm linh có thể đƣợc hiểu là những giá trị, trải nghiệm thuộc về ý thức của con ngƣời, nơi con ngƣời tìm thấy những giá trị thiêng liêng nhất, vƣợt qua những cái tôi cá nhân và giới hạn vật lý thông thƣờng về không gian thời gian, qua đó tìm đến cảm giác trọn vẹn, thanh tịnh, bình an trong tâm hồn.