đặt vấn đề phát triển du lịch một cách có chiến lược cụ thể hơn là chủ yếu mang tính kêu gọi (Goodwin & Venu, 2008). Như vậy DLCTN đề cập đến sự phối hợp giữa các bên liên quan nhằm xác định các hành động và trách nhiệm cụ thể và cùng nhau đồng thuận để thực hiện các hoạt động đó. DLCTN đòi hỏi các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với hành động của họ. Cách tiếp cận này nhắn mạnh đến tính trách nhiệm trong du lịch của tất cả mọi đối tượng liên quan, bao gồm: chính phủ, nha sản xuất, điều hành, hãng vận chuyển, dịch vụ của cộng đồng, tô chức phi chính phủ, khách du lịch, dân cu địa phương,.
10 DLCTN hướng tới mục tiêu cung cấp những kinh nghiệm tích cực cho du khách và cộng đồng dân cư địa phương, nâng cao nhận thức về sự tôn trọng đối với môi trường, văn hóa, giảm thiểu các tác động tiêu cực từ phát triển du lịch, hướng sự tập trung tới người nghèo, trao quyền cho người dân địa phương, thông qua du lịch để tối đa hóa thu nhập và việc làm cho họ. Tóm lại, DLCTN là một cách thức nhằm quản lý và làm du lịch chứ không phải một điểm đến, hay loại hình du lịch; kết quả là DLCTN tạo ra “những địa điểm tốt hơn cho người dân sinh sống ở đó và cho con người tới thăm ” và thước đo thành công là nguồn thu nhập cao hơn, các công việc thỏa đáng hơn và điều kiện văn hóa, xã hội tự nhiên được cải thiện hơn. DLCTN đã được các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp du lịch lồng ghép trong các loại hình du lịch như: Du lịch cộng đồng, sinh thái, làng quê, làng nghề. nhằm bảo tồn tài nguyên, thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch để cùng được chia sẻ lợi ích.
Các loại hình Du lịch có trách nhiệm Du lịch bên vững: Theo định nghĩa của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tai Rio de Janeiro năm 1992 thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cẩu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tôn và tôn trọng các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản ly các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu câu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó van duy tri su toàn ven về văn hóa, da dạng sinh học, sự phái triển của các hệ sinh thái và các hệ thông hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái bắt nguồn từ thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Có người quan niệm du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tac động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch.
Trong lần hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7/9/1999 đến 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh 11 thái “.là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản dia, sắn với giáo duc môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tổn và phát triển bên vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Theo Lê Huy Bá “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấp các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bén vững ”. Du lịch cộng dong: Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch như khai thác, quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên và cộng đồng phải được hưởng lợi từ hoạt động du lịch dé từ đó giảm tỉ lệ đói nghèo, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Du lịch nông nghiệp: Du lịch nông nghiệp là một hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo được và các trang trại động vật, đã được chuẩn bị phục vụ cho khách du lịch.
Khách du lịch xem hoặc tham gia vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp như làm việc với dụng cụ của nhà nông hoặc thu hoạch mùa mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của gia đình chủ nhà. Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ, nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh tác không dùng thuốc trừ sâu. Dễ dàng nhận thấy, các loại hình du lịch khác nhau thì mang đến cho du khách những trải nghiệm và cảm nhận khác biệt thông qua những sản phẩm du lịch. Sản phầm du lịch quyết định thị trường du lịch.
Vì vậy, du lịch nói chung và DLCTN nói riêng cũng cần phải xây dựng những sản phẩm du lịch không chỉ có chất lượng mà còn phải mang được dấu ấn riêng của từng loại hình. Sản phẩm Du lịch có trách nhiệm Như chúng ta đã biết, cơ cấu của sản phẩm du lịch vô cùng phong phú và liên quan tới rất nhiều ngành, nghề. Theo đó, Sản phâm DLCTN cũng mang những thành tố cầu tạo của sản phẩm du lịch nói chung. Song, nó mang những riêng biệt, thé hiện được tính độc đáo của loại hình du lịch này.
Bộ công cu về DLCTN tại Việt Nam (2013) theo Dự án Chương trình Phát triển Năng lực DLCTN do Liên minh Châu Au tài trợ có nêu khái niệm Sản phẩm DLCTN: “. Là sự tong hợp của những trải nghiệm có được trong suốt ki nghỉ, trong đó có thé bao gém các yếu to như nơi lưu trú, nhà hàng, các điểm hấp dẫn văn hóa và tự nhiên cùng các lễ hội và sự kiện `. - Theo UNEP (United Nations Environment Programme) - một cơ quan của Liên hợp quốc điều phối các hoạt động môi trường của Liên Hiệp Quốc, hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc thực hiện các chính sách và các cách làm hợp lý về môi trường , Sản phẩm DLCTN bao gồm ba thành tố: 1. Sự trải nghiệm: Lễ hội, các sự kiện và hoạt động cộng đồng, 4m thực và giải trí, mua sắm, an toàn, dịch vụ.
Cảm xúc: các nguồn lực về con người, văn hóa và lịch sử, lòng hiếu khách. Vật chất: cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên, nơi lưu trú, nhà hàng. Các điểm hấp dẫn trong sản phẩm du lịch có thể bao gồm các yếu tố thiên nhiên, lich sử, di sản văn hóa, môi trường nhân tạo và người dân tại các điểm đến, cũng như các hoạt động như leo núi, chèo thuyền và tham gia một khóa học nấu ăn. Có thé lấy ví dụ về các Sản phẩm DLCTN: + Điểm DLCTN: các khu bảo tồn, điểm di sản văn hóa cần được bảo tồn.
Du khách đến những địa điểm này vừa được tác động phần nào vào ý thức về các vấn đề liên quan đến sự bền vững, nhân dân địa phương lại vừa có thể bán được các sản phẩm địa phương tự làm ra. + Cơ sở lưu trú theo xu hướng DLCTN: các khu resort sinh thái được xây dựng và quản lý theo các nguyên tắc Du lịch bền vững (bảo vệ môi trường, có sự tham gia và lợi ích cho dân bản địa. + Giao thông cho DLCTN: các phương tiện di lại sử dụng năng lượng xanh có thể tái tạo, các tuyến du lịch xe đạp. DLCTN được xây dựng với những nguyên tắc, chỉ đạo, sản phẩm hết sức chặt chẽ và có trách nhiệm.
Tuy nhiên, bất cứ loại hình du lịch nào cũng có những tác động nhất định đến Môi trường - Kinh tế - Xã hội. Các tác động của Du lịch có trách nhiệm _ Theo Bộ công cụ về DLCTN tại Việt Nam(2013)được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát hành theo Chương trình Phát triển Năng lực DLCTN với Môi trường và Xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ: 1. Tác động của du lịch đối với Môi trường Các tác động tích cực: - Các kế hoạch quản lý chặt chẽ hơn đối với môi trường tự nhiên nhằm tạo hành lang quản lý và bảo vệ đầy đủ các hệ sinh thái nhạy cảm. Từ đó, nâng cao nhận thức của người dân địa phương và khách du lịch về các gia trị tự nhiên và tinh nhạy cảm của hệ sinh thái để có những hành vi có trách nhiệm hơn.
Làm du lịch đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ chấp nhận và quan trọng là xử lý những tác động qua lại giữa du lịch và môi trường. Ngoài những hạn chế, du lịch cũng góp phần tác động lại tâm lý của những người kinh doanh và cả không kinh doanh du lịch: Với những hộ kinh doanh du lịch: họ nhận thấy được tầm quan trọng, giá trị của môi trường cũng như cảnh quan tự nhiên tác động đến công việc kinh doanh hàng ngày của họ nên họ sẽ có ý thức gìn giữ, bảo vệ. Với những hộ không kinh doanh du lịch: môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, cộng thêm việc quản lý chặt chẽ, tác động vào ý thức của cộng đồng địa phương nên họ sẽ có sự tự giác trong van dé bảo vệ môi trường. Với du khách: họ được giáo dục về sự bền vững, đồng thời trước sự nhạy cảm của hệ sinh thái, họ sẽ có ý thức không xâm hại bừa bãi.
- Xây dựng các cơ sở xử lý nước thải và chất thải mà đối tượng hưởng lợi chính là khách du lịch và người dân địa phương. Tái chế chất thải trong cả nước. - Đào tạo nhân viên để nâng cao nhận thức và trình độ của họ về các vấn đề bảo vệ môi trường có thé làm thay đổi thói quen trong cuộc sống hàng ngày của họ. Các tác động tiêu cực: | - Sự phát triển của cơ sở hạ tầng trong loại hình du lịch này tuy là không bừa bãi, ồ ạt và không quá tách biệt với môi trường, tuy nhiên chắc chắn cũng sẽ phần nao gây ra những sự tổn hại đến những hệ sinh thái nhạy cảm.