đặt vấn đề ngược lại là phát triển để bảo tồn. Đó là hai mặt của một vấn đề, không thể tách rời, tác động tương hỗ lẫn nhau. * Tôn trọng và đặt lợi ích của công đồng cư dân bản địa lên trước hết, trên hết và xuyên suốt Nguyên tắc của quá trình quản lý DSVH với phát triển du lịch ở nơi có di sản là phải đặt lợi ích của cộng đồng cư dân bản địa - chủ nhân của di sản lên trước hết và trên hết. Tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư sở tại có thể tham gia vào các nội dung khác nhau trong quá trình quản lý và khai thác di sản trên quê hương mình.
Đấy là một nguyên tắc trở thành điều kiện tiên quyết và xuyên suốt trong quá trình khai thác giá trị kho tàng DSVH để phát triển du lịch. * Đảm bảo hài hoà lợi ích nhiều mặt của du khách - cư dân bản địa - công ty lữ hành Một trong nhưng nguyên tắc của công tác quản lý DSVH với phát triển du lịch là phải đảm bảo lợi ích một cách hài hoà, hợp lý, ngày càng nâng cao về lợi ích của du khách, cộng đồng cư dân bản địa và các hãng lữ hành. Chỉ có bình đẳng trong các cơ hội hành động cũng như hưởng thụ lợi ích mới là môi trường thuận lợi nhất để giúp cho các mối quan hệ bền chặt. Muốn vậy, công tác quản lý 15 di sản phải tạo dựng và kiểm soát những quy chế thích hợp ở mỗi địa phương mà không tạo ra những rào cản kìm hãm sự phát triển của du lịch ở địa phương đó.
* Xuất phát từ thực tế, bám sát thực tế Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất, bao trùm lên toàn bộ mọi mặt hoạt động của công tác quản lý DSVH với phát triển du lịch. Thực tế luôn biến đổi và phát triển không ngừng, điều đó khiến công tác quản lý cũng phải linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế. Trong quản lý di sản, việc bám sát thực tế vận động và phát triển chính là những động thái tích cực đem sức sống cho di sản, “thổi hồn vào di sản” chứ không tách rời di sản khỏi cuộc sống vốn có của nó. Có thể nói rằng: “Công tác quản lý di sản với phát triển du lịch là một nghệ thuật: Nghệ thuật tạo nên vẻ đẹp và sức mạnh!” [22, Tr.
Vai trò của di tích Văn hóa là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động của một chế độ xã hội nói chung. Trong xã hội có tổ chức, nhất là trong nền kinh tế thị trường, văn hóa nói chung cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT - XH của đất nước, bảo tồn được các giá trị của của bản sắc văn hóa dân tộc. Đối với các DTLS - VH cần được tôn trọng và bảo vệ vì trong mỗi quốc gia, DTLS - VH và DLTC là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt. Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân.
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Trong đó nhấn mạnh “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế 16 thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học, dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. DTLS - VH là một dạng vật thể của DSVH, di tích có vai trò làm sống lại các giá trị văn hoá phi vật thể đang tồn tại thông qua yếu tố vật thể, nhằm góp phần vào việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh và giáo dục truyền thống cho các thế hệ người Việt Nam. Mỗi một di tích đều mang trong lòng nó giá trị văn hoá - lịch sử nhất định.
Giá trị di tích đó phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành và phát triển xã hội qua mỗi thời đại. Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII đã khẳng định: “Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa văn hoá của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình…”. Ngày nay, thông qua tài liệu, sử sách, di tích,di vật, cổ vật, báu vật… chúng ta hiểu được quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là một chặng đường đầy gian nan, thử thách.
Nó có được bằng chính mồ hôi, nước mắt, trí tuệ và cả máu thịt của biết bao thế hệ cha ông chúng ta đã đổ xuống trong sự nghiệp giành giữ, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Những giá trị đó còn đọng lại trong mỗi trang sách, mỗi DTLS - VH trên khắp mọi miền của đất nước. Giá trị của mỗi di tích được lưu truyền, lan toả sâu rộng trong cộng đồng dân cư và tiếp nối qua các thế hệ dân tộc Việt Nam. Di tích là cơ sở nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội Giá trị của DSVH nói chung, di tích nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn cả là làm thế nào để phát huy những giá trị đó, đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với vai trò quan trọng trong sự nghiệp văn hoá vừa là mục tiêu, vừa 17 là động lực thúc đẩy sự phát triển KT - XH.
Giải quyết thật thoả đáng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn và phát triển nói riêng là vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hội nhập như Việt Nam. Văn hóa cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển KT - XH. Kinh tế và văn hóa là hai yếu tố tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau. Do đó, việc bảo tồn DSVH không được cản trở, mà ngược lại, còn phải tạo ra động lực cho phát triển xét dưới góc độ tác động tới việc hình thành nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ trực tiếp cho phát triển.
Trong hệ thống DTLS - VH trên cả nước được xếp hạng di tích quốc gia, đại bộ phận là các công trình kiến trúc gắn với tôn giáo tín ngưỡng. Vì thế, chúng ta cần quan tâm và tạo điều kiện để duy trì hạt nhân tín ngưỡng đó cho muôn đời con cháu mai sau với những lý do sau đây: Tín ngưỡng dân gian Việt Nam luôn gắn chặt với đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn vinh những danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc, nhân vật lịch sử có công với dân với nước. Chính hạt nhân tín ngưỡng có vai trò là động lực tinh thần cho việc hình thành các công trình tôn giáo tín ngưỡng mà ngày nay chúng ta gọi là di tích. Mặt khác, hạt nhân tín ngưỡng đó có sức mạnh huy động nguồn lực xã hội cho việc duy tu, bảo dưỡng di tích từ đời này sang đời khác.
Bên cạnh đó, việc khai thác giá trị tại khu DTLS - VH và DLTC đã tổ chức được nhiều loại hình du lịch và thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, học tập, hội thảo, vui chơi, nghỉ dưỡng … nhu cầu sử dụng dịch vụ đi lại, lưu trú, ăn uống, giải trí tăng cao, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, kích thích nhu cầu tiêu dùng, mua sắm, làm đòn bẩy để phát triển KT - XH của đất nước. 18 Nhiều quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật, Sigapore, … đã rất thành công trong việc khai thác giá trị di tích, thu hút du khách trong nước và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng… Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, giao lưu văn hoá với các nước trên thế giới, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề luôn được chú trọng và đề cao hơn bao giờ hết. Xét trên bình diện lịch sử, văn hoá và dân tộc là hai thực thể đồng tồn tại song hành với nhau. Có dân tộc là có văn hoá, song nếu dân tộc còn nhưng vẫn không bảo tồn được các giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc mình, thì cũng dễ bị mất văn hoá là mất dân tộc.
Do đó, DSVH là vốn quý của dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội, là yếu tố nội sinh của dân tộc. Chính sách của Đảng và Nhà nước ta chủ trương bảo tồn lâu dài vốn quý đó để giáo dục nhân dân về lòng tự hào dân tộc, về truyền thống lịch sử và văn hoá, tạo điều kiện cho nhiều thế hệ người có thể thưởng thức, tiếp thu, nghiên cứu các giá trị văn hoá đương truyền ấy để có thể sáng tạo ra những giá trị nhân văn mới, thể hiện được tầm cao của thời đại và chiều sâu của lịch sử, vừa dân tộc, vừa hiện đại, nhằm xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng văn hoá trở thành nền tảng tinh thần xã hội, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển KT - XH. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5, khóa VIII nêu rõ: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu cuối cùng là văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện.
Nhưng văn hóa không thể chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là và phải là động lực của sự phát triển kinh tế” [9, Tr. Kinh tế và văn hoá là 2 nội dung có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau. Sự kết hợp kinh tế với văn hóa, văn hóa với phát triển 19 đang là yêu cầu bức xúc của tất cả các nước trên thế giới.