Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật trong quản lý di tích văn hóa cấp quốc gia. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật trong quản lý di tích văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong quản lý di tích văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. 9 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA 1.
Khái quát chung về di tích văn hoá cấp quốc gia 1. Di tích văn hóa cấp quốc gia Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Khái niệm di tích văn hoá Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử.
Di tích là từ gọi chung của di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh (điều 29 văn bản hợp nhất năm 2013 từ luật di sản văn hóa 2001 và luật sửa đổi bổ sung năm 2009). Di tích văn hóa là từ gọi chung của các di tích có mang yếu tố văn hóa là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, góp phần vào việc phát triển 10 Luan van trí tuệ, tài năng của con người, vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử, đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Vì vậy, nó là chứng cớ vật chất tiêu biểu về quá trình phát triển lịch sử của mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại. Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001, và sửa đổi năm 2009, quy định: “di tích văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật.
Căn cứ khoản 2,3 Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá, theo Điều 11 Nghị định 98/2010 ngày 21/9/2010) di tích văn hóa được phân loại như sau: *Di tích lịch sử cách mạng- kháng chiến: Di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá, là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt. 11 Luan van *Di tích thắng cảnh: Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.
Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. *Di tích khảo cổ: Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. *Di tích kiến trúc nghệ thuật: Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc.
Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. *Di tích lịch sử - văn hóa: Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước.
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Khái niệm di tích văn hoá cấp quốc gia Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích văn hóa) được chia thành: - Di tích nằm trong danh mục kiểm kê di sản văn hóa. - Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.
- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia. - Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.
*Căn cứ theo tính chất lãnh thổ và giá trị tiêu biểu : Điều 29 Luật Di sản văn hóa hiện hành quy định di tích ở nước ta được phân thành 03 loại sau: - Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. - Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. - Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặt biệt tiêu biểu của quốc gia. Có thể định nghĩa di tích văn hoá cấp quốc gia như sau: là di tích đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kí quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia trên cơ sở đề nghị xét xếp hạng di tích Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Di tích văn hoá cấp quốc gia có một số đặc trưng sau: Thứ nhất, di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia Thứ hai, di tích văn hóa cấp quốc gia được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kí quyết định công nhận xếp hạng. Khái niệm, đặc điểm quản lý di tích văn hoá cấp quốc gia a. Khái niệm quản lý di tích văn hoá cấp quốc gia Quản lý theo Đại từ điển tiếng Việt, được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi [tr. Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra".
Quản lý nhà nước thường được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực của nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội trên tất cả các mặt của đời sống, xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có khi thể hiện ở tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển. Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách, luật pháp, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học nhằm đạt được các mục đích đã đề ra. Quản lý di tích văn hóa cấp quốc gia: Quản lý di tích văn hóa, bao gồm di tích văn hóa cấp quốc gia, có thể được xem là những ứng xử của các chủ thể có liên quan, trước hết là của cơ quan quan lý nhà nước đối với di tích. Cụ thể hơn, quản lý di tích văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực.
Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích.