Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Chương 3: Quan điểm của Đảng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai. 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn * Khái niệm di sản văn hóa Theo Luật DSVH, “DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân ta” [33, tr. DSVH Việt Nam bao gồm “DSVH phi vật thể và DSVH vật thể”, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam” [33, tr. - DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác; bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức nghề y, dƣợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. - DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm DTLS – VH, DLTC, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Tuy nhiên, sự phân định này chỉ mang tính tƣơng đối, nhằm nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản; còn trong thƣc tế, yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. * Di tích lịch sử văn hóa Theo nghĩa Hán Việt, Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Theo từ điển Tiếng Việt, “di tích là dấu vết của quá khứ còn lƣu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hoá” [58, tr.
9 Luan van Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Hùng – Cục Trƣởng Cục Di sản Văn hóa, là ngƣời dành nhiều năm nghiên cứu về di sản, di tích và việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa cho rằng: “Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc. Di tích giúp cho con ngƣời biết đƣợc cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trƣng văn hoá của đất nƣớc và do đó có tác động ngƣợc trở lại tới việc hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam hiện đại. Di tích lịch sử là những di tích liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hƣởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc” [25, tr. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu: di tích lịch sử văn hóa là nơi diễn ra hoặc ghi dấu những sự kiện quan trọng của lịch sử địa phƣơng cũng nhƣ của đất nƣớc, những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lƣợc, chống áp bức; những nơi ghi dấu sự vinh quang lao động; những nơi ghi dấu về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa.
Năm 1964, tại Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sƣ và Kỹ thuật gia về Di tích lịch sử đƣợc tổ chức tại thành phố Venice đã cho ra đời Hiến chƣơng Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di chỉ. Trong đó, hiến chƣơng nhấn mạnh Khái niệm “di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp đƣợc một ý nghĩa văn hóa” [20]. Nhiều nƣớc trên thế giới đều đặt chung cho DTLSVH là dấu tích, vết tích còn lại.
Tiếng Pháp: Vestige, Tiếng Anh: Vestige, Tiếng Nga: Pomiatnik, Tiếng Trung Quốc: “ Cổ tích”. Mỗi nƣớc trên thế giới cũng đều đƣa ra những khái niệm, quy định về DTLSVH của dân tộc mình. Trong Điều 1 của Hiến chƣơng Vernice - Italy quy định: “DTLSVH bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, 10 Luan van những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử”[20]. Ở nƣớc ta, năm 1984, Hội đồng Nhà nƣớc đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh.
Pháp lệnh chỉ rõ: “DTLSVH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng nhƣ có giá trị văn hóa khác hoặc liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [23]. Theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa năm 2009: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [34, tr. - Tiêu chí và phân loại di tích lịch sử văn hóa Điều 28, Luật Di sản Văn hóa năm 2009 quy định, DTLSVH phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nƣớc; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [34, tr. Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích, DTLSVH đƣợc chia thành 3 loại: Di tích quốc gia đặc biệt, Di tích quốc gia, Di tích cấp tỉnh.
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bƣớc chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hƣởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cƣ trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ 11 Luan van thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới. Các di tích này đƣợc địa phƣơng lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trƣởng Bộ VHTTDL, Thủ tƣớng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hƣởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cƣ trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ; Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù. Các di tích này đƣợc địa phƣơng lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trƣởng Bộ VHTTDL, Thủ tƣớng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia.
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phƣơng, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phƣơng hoặc gắn với nhân vật có ảnh hƣởng tích cực đến sự phát triển của đại phƣơng trong các thời kỳ lịch sử; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cƣ trú có giá trị trong phạm vi địa phƣơng; Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phƣơng; Cảnh quan thiên 12 Luan van nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phƣơng; Địa phƣơng lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTTDL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng xếp hạng di tích cấp tỉnh. Dựa vào hình thức quản lý, di tích lịch sử văn hóa đƣợc chia thành 3 loại: Di tích do nhà nƣớc trực tiếp quản lý; Di tích do cộng đồng dân cƣ (dƣới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý; Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý. Cụ thể: Di tích do Nhà nƣớc quản lý là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các BQL di tích đƣợc Nhà nƣớc thành lập trực tiếp quản lý.