Chương 1: Lý luận về đất di tích lịch sử - văn hóa và về pháp luật đất di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử- văn hóa tại thành phố Hà Nội. 8 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.
Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa 1. Các công trình nghiên cứu chung về di tích lịch sử - văn hóa 1. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về đất di tích LSVH không thể không đề cập đến các công trình nghiên cứu về di tích LSVH ở Việt Nam. Bởi lẽ đây là một loại đất đặc biệt không thể tách rời khỏi các di tích LSVH.
Hay nói cách khác, tiêu chí quan trọng nhất để nhận diện đất di tích LSVH so với các loại đất khác; đó là đất mà trên đó có các di tích LSVH đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ra quyết định công nhận và xếp hạng. Với một nƣớc có bề dày truyền thống văn hiến mấy nghìn năm lịch sử nên đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về di tích LSVH đƣợc công bố mà tiêu biểu phải kể đến một số công trình khoa học cụ thể sau đây. Công trình nghiên cứu của tác giả Lƣu Trần Tiêu đề cập đến những khái niệm cụ thể về di sản văn hóa vật thể (bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia) và di sản văn hóa phi vật thể (bao gồm tiếng nói, chữ viết, ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian). Qua việc tiếp cận nội dung này, ngƣời đọc hiểu đƣợc thế nào là di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng cũng nhƣ các loại hình cụ thể của di sản văn hóa.
Giá trị của công trình này thể hiện ở chỗ tác giả Lƣu Trần Tiêu đƣa ra cách 9 tiếp cận, quan niệm mới về cách thức nghiên cứu LSVH theo truyền thống và bình tuyến, đây là “chiều dọc” và “chiều ngang” trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa nói chung và có thể ứng dụng khi nghiên cứu di tích nói riêng. “Chiều dọc” phản ánh bối cảnh LSVH, xã hội gắn với những điều kiện cụ thể trong một không gian và thời gian nhất định mà con ngƣời tạo nên các loại hình, đặc trƣng, phong cách của di tích, ghi dấu các bƣớc phát triển của lịch sử. Bình tuyến, hay mực ngang đánh dấu trình độ phát triển, sự biến chuyển và có thể cả sự giao thoa, sự tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng gần nhau trên cùng một lát cắt thời gian, một giai đoạn lịch sử. Với cách tiếp cận nghiên cứu này, tác giả Lƣu Trần Tiêu cho rằng di tích LSVH bao giờ cũng nằm trong không gian lịch sử, không gian văn hóa và môi trƣờng sinh thái nhân văn quanh nó.
Việc làm biến dạng, sai lệch, lấn chiếm, thậm chí hủy hoại không gian, môi trƣờng quanh di tích làm giảm đi rất nhiều giá trị vốn có của nó. Việc phân vùng văn hóa để nghiên cứu là một vấn đề rất phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và phƣơng pháp tiếp cận. Truyền thống đƣợc hình thành trong những điều kiện nhất định và bằng những con đƣờng khác nhau, không phải lúc nào cũng đƣợc tiếp nối liên tục và đơn tuyến do bị tác động bởi các điều kiện kinh tế- văn hóa- xã hội- môi trƣờng sinh thái nhân văn. Đây là những nội dung, thông tin tham khảo rất bổ ích giúp tác giả trong quá trình nghiên cứu luận án, đặc biệt trong phân tích vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với các di tích LSVH ở nƣớc ta rất cần tầm nhìn xa để có thể bảo vệ, phát huy giá trị của di sản lâu dài và bền vững.
ii) Lê Thị Thảo (2016), Tiếp cận lịch sử qua di sản văn hóa, Tạp chí Di sản văn hóa vật thể, số 4(57). Bài viết tập trung nghiên cứu hƣớng tiếp cận lịch sử từ các di tích (qua thực tiễn tại Thanh Hóa). Qua đó nhìn nhận lịch sử từ nhiều góc cạnh để có thể tiến tới gần nhất bản chất của vấn đề lịch sử. Tác giả đã phân tích các di 10 tích chứa đựng lịch sử còn “sống” (hiện hữu) cho các thế hệ sau, tạo ra cầu nối giữa quá khứ và hiện tại.
Nghiên cứu di tích giúp cho con ngƣời biết đƣợc cội nguồn dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trƣng văn hóa của đất nƣớc và do đó có tác động ngƣợc trở lại tới việc hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam hiện đại. Qua đó giúp chúng ta góp phần định hƣớng tƣơng lai, đồng thời khẳng định các di tích là đại diện cho một trong những khía cạnh nổi bật nhất của LSVH Việt Nam. Tác giả đã thống kê hệ thống di tích lịch sử Việt Nam đƣợc phân thành bốn loại hình cơ bản: di tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ. Theo cấp độ có: di tích cấp tỉnh, di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt.
Hƣớng tiếp cận lịch sử từ di tích đã chỉ ra nhiều dẫn dụ đƣợc khái quát hóa thành nguyên tắc, phƣơng pháp nghiên cứu. Những kết quả nghiên cứu này đƣợc tác giả luận án tham khảo khi tìm hiểu, phân tích những vấn đề lý luận pháp luật về đất di tích LSVH ở Chƣơng 1 luận án; đặc biệt là Tiểu mục 1.1 lý luận về di tích LSVH khi nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và phân loại di tích LSVH. iii) Doãn Minh Khôi (Viện quy hoạch và Kiến trúc đô thị) (2010), Bảo tồn di tích trong phát triển không gian đô thị, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 2(31). Nội dung bài viết đề cập cơ sở khoa học, thực tiễn của việc chỉnh trang và cải tạo di tích trong đô thị; bản chất và nội dung việc bảo tồn di tích với quá trình phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Nếu kiến trúc và quy hoạch là những yếu tố luôn biến đổi thì những yếu tố ít biến đổi và bất biến cũng luôn nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, bởi đó chính là những yếu tố quan trọng tạo nên cái lõi cố định cho sự phát triển của các đô thị. Tác giả Doãn Minh Khôi đã làm rõ việc bảo tồn di tích trƣớc hết phải đƣợc các nhà quy hoạch và phát triển đô thị nhìn nhận ngay từ giai đoạn quy hoạch tổng thể 1/2000, cần phải đánh dấu các điểm bảo tồn (đình, đền, chùa, miếu) các tuyến cần bảo tồn (các tuyến phố) và các mảng cần bảo 11 tồn (ô phố, quảng trường, không gian mặt nước…). Bảo tồn di tích phải gắn liền với không gian và địa điểm. Các di tích phải đƣợc bảo tồn đúng với vị trí của nó trong không gian đô thị, hơn thế nữa nó cần phải đƣợc bảo tồn trong sự xâm lấn của các yếu tố kiến trúc đô thị bao quanh.
Tác giả đã phân tích các thách thức trong việc bảo tồn di tích trong không gian đô thị, đặc biệt là ở Hà Nội, luôn luôn bị chèn ép bởi các công trình xây dựng mới, tốc độ đô thị hóa và sự bùng nổ dân số mạnh mẽ. Để khắc phục đƣợc tình trạng này, nhà thiết kế và chỉnh trang đô thị cần phải có cách tiếp cận với đời sống di tích trên cả hai phƣơng diện quản lý và giáo dục cộng đồng. Bài viết cung cấp những thông tin tham khảo có giá trị đƣợc tác giả luận án tiếp thu khi đánh giá thực tiễn thi hành việc bảo tồn di tích LSVH ở Hà Nội nói chung và bảo tồn di tích phố cổ nói riêng tại Chƣơng 2 luận án. iv) Trịnh Thị Hòa (2009), Bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong bối cảnh hội nhập và phát triển, Tạp chí Di sản văn hóa vật thể, số 2(27).
Tác giả bài viết đã khẳng định Đảng và Nhà nƣớc luôn hết sức quan tâm đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong bối cảnh hội nhập và phát triển quốc tế hiện nay thông qua việc tạo những thuận lợi về mặt pháp lý, cơ chế, kinh phí, đào tạo nguồn nhân lực v.; cụ thể: Một là, ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LSVH; Hai là, đầu tƣ kinh phí cho công tác tu bổ, chống xuống cấp di tích. Từ năm 1994 đến năm 2001, ngân sách trung ƣơng chi 26.718 tỷ đồng; ngân sách địa phƣơng chi 360.170 tỷ đồng cho công tác tu bổ, chống xuống cấp di tích LSVH; Ba là, đào tạo nguồn nhân lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích LSVH, lập hồ sơ khoa học cho 5 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, hơn 3.000 di tích cấp quốc gia và hơn 5.000 di tích cấp tỉnh; Bốn là, thu hút, hấp dẫn du khách trong và ngoài nƣớc tham quan, góp phần tạo ra lợi ích kinh tế cho Nhà nƣớc và địa phƣơng; Năm là, phổ biến tri thức 12 khoa học cho quảng đại công chúng trong nƣớc thông qua công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống, tạo niềm tin cho quần chúng và khách tham quan nƣớc ngoài, tranh thủ sự ủng hộ với nƣớc ta trong công cuộc kiến thiết đất nƣớc. Đồng thời, tác giả bài viết đã phân tích những mặt hạn chế của công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích LSVH nhƣ: - Chƣa có chiến lƣợc mang tầm cỡ quốc gia, còn tùy tiện, manh mún. - Chính quyền các cấp chƣa thực sự quan tâm đến trách nhiệm đã đƣợc quy định trong Luật.
- Công tác nghiên cứu, bảo tồn di tích LSVH có nơi còn chƣa đƣợc coi trọng. - Nguồn nhân lực làm công tác chuyên môn còn thiếu, còn yếu nên ảnh hƣởng đến chất lƣợng và hiệu quả của công tác bảo tồn. - Thực trạng trộm cổ vật, xâm hại di tích vẫn diễn ra phổ biến, gây thất thoát di sản và làm giảm giá trị di tích.