Luận văn thạc sĩ về quản lý tài nguyên và môi trường: Đánh giá mâu thuẫn tại Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ phân tích mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên môi trường vùng bờ Quảng Bình, đề xuất giải pháp hiệu quả cho phát triển bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

118
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên môi trường tại Quảng Bình

Vùng bờ Quảng Bình, với chiều dài bờ biển trên 116 km và nguồn tài nguyên phong phú, đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý tài nguyên môi trường. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng đã tạo ra áp lực lớn lên hệ sinh thái, dẫn đến sự suy giảm các nguồn tài nguyên như nước ngầm và thủy sản. Quản lý tài nguyên tại đây hiện nay chủ yếu theo hướng ngành, dẫn đến sự chồng chéo và thiếu sót trong việc quản lý, gây ra các mâu thuẫn giữa các ngành kinh tế khác nhau. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững mà còn tác động đến sinh kế của người dân phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên này. Theo nghiên cứu, việc đánh giá mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên môi trường tại Quảng Bình là cần thiết để tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện tình hình hiện tại.

II. Phân tích hiện trạng khai thác tài nguyên vùng bờ Quảng Bình

Hiện trạng khai thác tài nguyên vùng bờ Quảng Bình cho thấy sự đa dạng về các loại hình kinh tế như đánh bắt thủy sản, nuôi trồng thủy sản, du lịch và khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, các hoạt động này đang diễn ra thiếu đồng bộ và không theo quy hoạch, dẫn đến sự xung đột tài nguyên giữa các ngành. Ví dụ, việc khai thác khoáng sản có thể gây tổn hại đến hệ sinh thái ven biển, trong khi nhu cầu phát triển du lịch lại cần bảo vệ môi trường. Đánh giá tác động từ các hoạt động này là cần thiết để nhận diện các vấn đề tồn tại và từ đó có những giải pháp cụ thể. Theo đó, việc quy hoạch tài nguyên cần phải được thực hiện một cách tổng thể và đồng bộ để giảm thiểu các mâu thuẫn và đảm bảo phát triển bền vững.

III. Nhận diện và phân loại các mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên

Nghiên cứu đã chỉ ra nhiều mâu thuẫn chính trong quản lý tài nguyên tại Quảng Bình, bao gồm: (1) mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển công nghiệp và bảo vệ hệ sinh thái; (2) mâu thuẫn giữa nuôi trồng thủy sản và bảo vệ rừng; (3) mâu thuẫn giữa khai thác khoáng sản và bảo vệ nguồn nước. Các mâu thuẫn này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống của người dân địa phương. Việc đánh giá tác động của các mâu thuẫn này là rất quan trọng để đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu thiệt hại cho môi trường và cộng đồng. Cần có sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình quản lý để đảm bảo lợi ích chung.

IV. Đề xuất giải pháp cải thiện mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên

Dựa trên phân tích hiện trạng và các mâu thuẫn đã nhận diện, một số giải pháp cải thiện được đề xuất bao gồm: (1) xây dựng chính sách quản lý tài nguyên đồng bộ; (2) tăng cường công tác bảo vệ môi trường thông qua các chương trình giáo dục cộng đồng; (3) áp dụng các giải pháp kỹ thuật trong khai thác tài nguyên nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Việc áp dụng mô hình quản lý tổng hợp sẽ giúp các ngành kinh tế có thể phối hợp tốt hơn trong việc sử dụng tài nguyên, từ đó giảm thiểu các xung đột tài nguyên và đảm bảo phát triển bền vững cho vùng bờ Quảng Bình.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Quảng Bình là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ Việt Nam, có bờ biển dài trên 116 km, trải dài từ Đèo Ngang (Quảng Trạch) đến Hạ Cờ (Lệ Thủy) với vùng đặc quyền kinh tế khoảng 20. Tiềm năng tài nguyên vùng biển và ven biển của tỉnh khá phong phú, đa dạng, bao gồm: nguồn lợi thủy sản, tài nguyên du lịch, tài nguyên đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên vị thế .; tạo điều kiện thuận lợi cho phép Quảng Bình phát huy thế mạnh để phát triển kinh tế tổng hợp biển. Tại vùng ven biển của Tỉnh đã và đang hình thành, phát triển các khu du lịch, nghỉ mát, các vùng sản xuất nông-lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS), các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), cảng và nhiều cơ sở hạ tầng quan trọng khác.

Tuy nhiên cho đến nay, sự phát triển KTXH của tỉnh Quảng Bình nói chung và vùng ven biển nói riêng còn gặp nhiều bất cập, hạn chế. Suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, cùng với ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu tại vùng ven biển của tỉnh, đang là những vấn đề nổi cộm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vấn đề trên là do việc sắp xếp, phân bố và quy định chưa hợp lý các loại hình khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT) tại vùng ven biển. Các hoạt động kinh tế vùng ven biển chưa được thực hiện đúng quy hoạch; xuất hiện sự chồng chéo trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, gây nên những tác động bất lợi qua lại giữa các ngành kinh tế với nhau và tới môi trường, mục tiêu phát triển bền vững không được đảm bảo.

Mặt khác vùng bờ của tỉnh là nơi tập trung đông dân cư, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, phần lớn người dân sống bằng nghề truyền thống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, trình độ học vấn còn hạn chế, khai thác nguồn lợi từ biển chưa đúng cách, một số còn mang tính chất hủy diệt. Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên biển và ven biển của tỉnh ngày càng dần cạn kiệt, môi trường bị suy thoái, khả năng phục hồi, khắc phục rất khó khăn. Hiện nay công tác quản lý nhà nước về sử dụng tài nguyên và BVMT vùng biển, ven biển nước ta còn mang tính đơn ngành, trong khi nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng đều thuộc hệ thống tài nguyên chia sẻ, không thuộc riêng một ngành nào. Mọi quy hoạch chuyên ngành, kế hoạch hành động không thống nhất, thiếu sự phối hợp sẽ làm cho các chương trình, dự án đầu tư không phát huy hiệu quả, thậm chí còn gây ảnh hưởng tới môi trường biển và ven biển, làm tăng mâu thuẫn lợi ích giữa ngành này với ngành khác trong việc sử dụng hệ thống tài nguyên chung và kết quả là chưa tạo được môi trường phát triển bền vững cho vùng ven biển tỉnh Quảng Bình.

Trong năm 2016 sự cố môi trường Fomosa đã làm ảnh hưởng đến môi trường nước biển của các tỉnh ven biển miền Trung, tác động của hoạt động xả thải công nghiệp ảnh hưởng liên tỉnh, hưởng nặng nề đến sinh kế của người dân. Tại Quảng Bình không chỉ các loài cá mà ngay cả các rạn san hô ven biển cũng gần như biến mất kéo theo nhiều hệ lụy Luận văn thạc sỹ 1 về môi trường và đời sống người dân. Điều này đặt ra bài toán có hay không nên phát triển công nghiệp tại vùng bờ. Không chỉ riêng ngành công nghiệp mà các ngành khác như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch,.

thuộc vùng bờ cũng tồn tại những tiềm năng mâu thuẫn. Các mâu thuẫn trong sử dụng tài nguyên vùng bờ Quảng Bình chưa bộc phát, cường độ tác động chưa lớn để dẫn đến các xung đột môi trường như ở một vài nơi, tuy nhiên để quản lý môi trường vùng bờ hiệu quả và ngăn chặn các nguy cơ từ mâu thuẫn dẫn đến xung đột, cần đánh giá các mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên môi trường vùng bờ, từ đó đề ra được các biện pháp giải quyết, giảm thiểu các mâu thuẫn, bất cập trong việc sử dụng không gian và tài nguyên vùng bờ. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là đánh giá hiện trạng các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên vùng bờ Quảng Bình, từ đó đề xuất cách giải quyết, giúp cho việc sử dụng tài nguyên vùng bờ bền vững. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu sau sẽ được thực hiện: (1) Tìm hiểu cơ sở lý thuyết mâu thuẫn và lý thuyết quản lý tài nguyên vùng bờ (2) Phân tích hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ Quảng Bình (3) Phân tích, đánh giá các mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên vùng bờ (4) Đề xuất giải pháp giải quyết các mâu thuẫn 4.

Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là vùng bờ Quảng Bình và các hoạt động quản lý tài nguyên vùng bờ: Bao gồm đối tượng quản lý và đối tượng được quản lý. Các đối tượng quản lý bao gồm: cơ quan nhà nước (tập trung vào các Sở Ban ngành sau: Sở TN&MT, Sở NN&PTNT, Sở Du lịch), các chính sách liên quan đến quản lý tài nguyên vùng bờ (tập trung vào các quy hoạch ngành). Đối tượng được quản lý là các loại tài nguyên vùng bờ, trong đó tập trung vào các tài nguyên có cường độ sử dụng nhiều hoặc có tính nhạy cảm sau: du lịch biển, thủy sản, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và khoáng sản. Đề tài không đi sâu phân tích vào các khía cạnh kỹ thuật của quản lý, chính sách, qui hoạch tổng thể và quy hoạch ngành.

Phạm vi nghiên cứu thuộc vùng bờ Quảng Bình bao gồm vùng bờ ven biển và vùng biển ven bờ. Trong đó vùng bờ ven biển trong phạm vi của 20 xã ven biển, vùng biển ven bờ là vùng biển tiếp giáp với đất liền tới 6 hải lí tính từ đường bờ biển. Thời gian nghiên cứu: 01/2019 – 6/2019. Luận văn thạc sỹ 2 5.

Phương pháp nghiên cứu 5. Phương pháp tổng hợp số liệu, thu thập thông tin Số liệu nghiên cứu thứ cấp được thu thập bao gồm điều kiện tự nhiên, tài nguyên vùng bờ, các chính sách quản lý tài nguyên vùng bờ hiện hành. Các thông tin được thu thập nhằm phục vụ nội dung đánh giá hiện trạng sử dụng và quản lý tài nguyên vùng bờ. Các thông tin được thu thập cùng với dự án “Phân vùng sử dụng tổng hợp vùng bờ tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” và Dự án “Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” của Trung tâm tài nguyên nước và môi trường.

Các thông tin, số liệu được tổng hợp bao gồm: - Niên giám thống kê các huyện ven biển tỉnh Quảng Bình; - Các báo cáo quy hoạch ngành trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; - Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội (KTXH) năm 2017, 2018 trên địa bàn 20 xã ven biển; - Báo cáo tổng kết hiện trạng các ngành trên địa bàn tỉnh trong năm 2017, 2018; - Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tỉnh hằng năm. Phương pháp phân tích, đánh giá, xử lý số liệu Các số liệu được tổng hợp và chọn lọc, phân tích nhằm đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên vùng bờ (nội dung 2). Từ đó làm cơ sở cho việc đánh giá mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên vùng bờ (nội dung 3). Các số liệu thứ cấp được chọn lọc để phân tích, xử lý bao gồm diện tích, dân số, số thuyền đánh bắt gần bờ, sản lượng khai thác, diện tích NTTS, sản lượng nuôi, các hình thức đánh bắt, ….

Đối với các dữ liệu sơ cấp từ bảng hỏi, dữ liệu được thống kê theo xã và theo nhóm ngành nghề, sau đó đối chiếu với Báo cáo kinh tế xã hội của xã đó để xác minh độ chính xác của ngành nghề người được phỏng vấn tại địa phương, cuối cùng chọn lọc thông tin và sử dụng phương pháp thống kê mô tả bằng biểu đồ để báo cáo. Phương pháp điều tra xã hội học Điều tra tình hình sinh kế của các hộ dân thuộc các xã ven biển là các xã chịu tác động trực tiếp của biển, tình hình sử dụng các loại tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên thủy sản ven biển, thủy sản nước lợ. Tham vấn ý kiến người dân về tình hình suy giảm môi trường từ các hoạt động khai thác tài nguyên ven biển nhằm bổ sung hiện trạng sử dụng tài nguyên vùng bờ. Từ đó có được đầy đủ thông tin hơn về tình hình quản lý tài nguyên vùng bờ Quảng Bình.

Phương pháp này nhằm khảo sát ý kiến của người dân, cán bộ địa phương về nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên và nhu cầu bảo vệ tài nguyên vùng bờ. Số phiếu cần phỏng vấn người dân được tính theo công thức sau [57]: Luận văn thạc sỹ 3 𝑁 𝑛= 1 + 𝑁. 𝑒 2 Số lượng dân năm 2017 của 20 xã ven biển là 144.065 người, với sai số cho phép là 5%, thì lượng phiếu cần thu thập là 399 phiếu. Tác giả luận văn này đã tiến hành phỏng vấn xã hội học người dân 400 phiếu, bên cạnh đó phỏng vấn 70 cán bộ quản lý thuộc các cấp sở ban ngành.

Nội dung các câu hỏi liên quan đến hiện trạng khai thác và nhận thức về hoạt động của các ngành nghề bao gồm: đánh bắt, nuôi trồng, công nghiệp, lâm nghiệp, trồng trọt, du lịch, khai thác khoáng sản. Mẫu phiếu điều tra được thể hiện trong Phụ lục 2. Phương pháp này phục vụ cho nội dung (3). Số phiếu phân bố tại mỗi xã như sau: Bảng 1.

Số phiếu phỏng vấn phân bố tại mỗi xã Tên xã/phường Số phiếu Xã Quảng Đông 12 Xã Quảng Phú 26 Xã Cảnh Dương 22 Xã Quảng Hưng 21 Xã Quảng Xuân 26 Phường Quảng Thọ 31 Phường Quảng Phúc 25 Xã Đại Trạch 23 Xã Thanh Trạch 38 Xã Hải Trạch 25 Xã Đức Trạch 20 Xã Trung Trạch 14 Xã Nhân Trạch 27 Xã Quang Phú 9 Phường Hải Thành 16 Xã Bảo Ninh 26 Xã Hải Ninh 15 Xã Ngư Thủy Bắc 10 Xã Ngư Thủy Trung 6 Xã Ngư Thủy Nam 8 Tổng 400 Trong 400 phiếu được phỏng vấn, mỗi phiếu có giá trị được tính trên 1 người, không bao gồm các phiếu không cho ý kiến hoặc trả lời không biết. Với phương pháp chọn mẫu có mục đích, phân chia số phiếu cụ thể tại mỗi xã, đối tượng được phỏng vấn là những người trưởng thành, lớn hơn 18 tuổi và là cư dân sống tại địa phương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ về quản lý tài nguyên và môi trường: Đánh giá mâu thuẫn tại Quảng Bình" của tác giả Lương Thị Thảo, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Lê Văn Khoa, tập trung vào việc phân tích và đánh giá các mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên môi trường tại tỉnh Quảng Bình. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức trong quản lý tài nguyên mà còn đề xuất những giải pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình hiện tại. Độc giả sẽ thu được nhiều thông tin hữu ích về cách thức quản lý tài nguyên một cách bền vững, cũng như những tác động mà các mâu thuẫn này gây ra đối với môi trường và cộng đồng.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của quản lý tài nguyên và môi trường, hãy khám phá thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ về quản lý tài nguyên và môi trường: Tăng cường quản lý môi trường trong khai thác than tại Quảng Ninh", nơi bàn về giải pháp quản lý môi trường trong khai thác tài nguyên. Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo bài viết "Đánh Giá Hiện Trạng và Đề Xuất Giải Pháp Quản Lý Môi Trường Tại Khu Công Nghiệp Phú Mỹ 1, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", để có cái nhìn tổng quan hơn về quản lý môi trường tại các khu công nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và tìm ra những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường.