Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT RỪNGTRẦN HƯNG ĐẠO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Quản lý văn hóa và Quản lý nhà nước về văn hóa - Khái niệm quản lý văn hoá Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Theo đó, quản lý văn hoá là việc điều khiển, chỉ đạo hoạt động của các chủ thể văn hoá đối với văn hoá.
Chủ thể văn hoá có thể là các tổ chức hoặc cá nhân. Các chủ thể quản lý hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý văn hoá. - Khái niệm Quản lý nhà nước về văn hóa Quản lý văn hóa là hoạt động xã hội mang tính đặc thù, các hoạt động và sự phát triển văn hoá được quản lý thực hiện bằng hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đời sống văn hóa, nội dung, phương thức, cách thức của hoạt động quản lý luôn có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời điểm lịch sử.
Văn hoá là một khái niệm rộng và đa nghĩa nên quản lý văn hóa không chỉ là quản lý nhà nước mà còn là sự tự quản lý của từng người, từng gia đình, tập thể, làng xóm, theo chuẩn mực chung của Nhà nước. Bản chất của quản lý văn hóa chính là sự kết hợp giữa quản lý Nhà nước và nhân dân tự quản lý. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thụ, quản lý nhà nước về văn hóa được xác định bao gồm các nội dung sau: Định hướng các hoạt động văn hóa; xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động văn hóa; tổ chức và điều hành các thiết chế, các tổ chức văn hóa hoạt động theo chương trình, kế hoạch quốc gia; xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa; tổ chức kiểm tra, thanh tra các hoạt động văn hóa [42]. 14 Theo đó, quản lý về văn hóa có thể hiểu là sự lãnh đạo, điều hành những cơ sở hoạt động văn hóa được xã hội phân công trong hệ thống Nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp hoạt động văn hóa.
Quản lý văn hóa còn là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra các thiết chế văn hóa (cả lợi nhuận và phi lợi nhuận). Với cách hiểu như trên, tác giả cho rằng, quản lý văn hoá là việc chủ thể quản lý tiến hành lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều khiển vận hành và thanh tra, kiểm tra nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển văn hoá, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng của con người. Có thể thấy, quan điểm của Nguyễn Hữu Thụ đưa ra mang tính tổng quát và khá toàn diện. Quản lý nhà nước về văn hóa chính là Nhà nước quản lý toàn bộ hoạt động văn hoá quốc gia, liên tục tác động, có tổ chức, có mục cụ thể đích thông qua Hiến pháp và hệ thống luật pháp.
Nhằm tạo điều kiện cho văn hoá phát triển theo hướng tích cực, mang đến nhiều lợi ích cho con người, giúp cho sự vận động của xã hội liên tục, không ngừng phát triển. Từ những lý luận khái niệm về Quản lý văn hóa và Quản lý nhà nước về văn hóa trên, tác giả sẽ vận dụng vào luận văn của mình trên cơ sở thống nhất di tích là một nội dung nằm trong lĩnh vực văn hóa. Quản lý văn hóa nói chung và quản lý di tích nói riêng được Nhà nước quản lý bằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản chuyên ngành. Khái niệm Di tích lịch sử văn hóa và Quản lý di tích lịch sử văn hóa Hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di chỉ năm 1964 (Hiến chương Venice) - [20], tại Điều 1 có định nghĩa: Ngoài các công trình kiến trúc, di tích lịch sử còn có thể là cả các khu đô thị hoặc những vùng nông thôn mà bên trong các khu vực đó tìm thấy những bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, đánh dấu một sự phát triển quan trọng hay dấu tích của một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với 15 những công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình có quy mô nhỏ nhưng chứa đựng trong đó các ý nghĩa văn hóa của quá khứ. Thuật ngữ “văn vật bất động" được dùng ở Trung Quốc, để chỉ các di tích, bao gồm: “di chỉ văn hóa cổ, các hình thức mộ táng, các công trình kiến trúc cổ, kiến trúc chùa trong hang động, tác phẩm điêu khắc đá, bích họa, những dấu tích lịch sử quan trọng, đặc trưng và kiến trúc tiêu biểu của thời kỳ hiện đại” [59]. Theo Từ điển tiếng Việt thì: “DTLS văn hóa là tổng thể những công trình địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [51]. Pháp lệnh DTLS văn hóa năm 1984 lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về DTLS văn hóa và danh lam thắng cảnh.
Theo đó, DTLS văn hóa được hiểu là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội [22]. Kế thừa quy định trên, khái niệm DTLS văn hóa tiếp tục được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 tiếp cận dưới khía cạnh là một thành tố của phạm trù di sản văn hoá: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [38, tr. So với khái niệm về DTLS văn hoá được nêu trong Pháp lệnh DTLS năm 1984 thì khái niệm DTLS văn hoá trong Luật Di sản văn hoá mang tính bao quát, đầy đủ và hoàn thiện hơn. Nó không chỉ là những công trình xây dựng, địa điểm mà còn bao gồm các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của công trình, địa điểm đó.
Và một DTLS văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau: công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước; công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; công 16 trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn. Có nghĩa là chúng phải có vật chứng cho một sự kiện lịch sử, có giá trị văn hóa hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất; hoặc chúng là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một phong cách, một thời đại; hoặc chúng là sản phẩm được phát minh sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác động thúc đẩy xã hội phát triển của một giai đoạn lịch sử nhất định. Khái niệm DTLS văn hóa được Luật Di sản văn hóa đề cập phù hợp hơn với các quy định về di sản văn hóa của UNESCO và phù hợp với đòi hỏi của công tác quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa hiện nay. Luật Di sản văn hóa năm 2001, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 không nêu ra khái niệm cụ thể về quản lý DTLS văn hóa, tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu và khảo sát thực tiễn thì nội dung công tác quản lý DTLS văn hóa được hiểu bao gồm một số hoạt động như: bảo vệ, giữ gìn DTLS văn hóa; thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hóa mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của DTLS văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hóa.
Và để thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước đã ban hành một cơ chế, chính sách phù hợp cùng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, vừa có tác động nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa, vừa tạo động lực cho các hoạt động quản lý DTLS văn hóa phát triển bền vững. Như vậy, nội dung của hoạt động quản lý DTLS văn hóa mà Luật Di sản đề cập đến về cơ bản là đầy đủ, phù hợp với 17 thực tiễn quản lý. Theo đó, khi hoạt động quản lý DTLS văn hóa khoác lên mình một diện mạo mới, nó sẽ cùng với hệ thống các di sản văn hóa khác của Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút du khách không chỉ trong nước mà còn của khu vực và thế giới. Trong Luận văn, tác giả nghiên cứu hoạt động quản lý DTLS văn hóa theo quan điểm của Luật Di sản Văn hóa.
Theo tác giả, đây là một khái niệm tương đối đầy đủ, phù hợp với thực tế tại Việt Nam hiện nay. Di tích quốc gia đặc biệt Di tích quốc gia đặc biệt là những di tích Việt Nam có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốc gia, lần xếp hạng đầu tiên là vào năm 2009.