chương 1 - điều 4 của Luật Di sản văn hóa định nghĩa: "Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được (LUAN.2012) 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2012) lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [54, tr 2]. - Khái niệm di sản văn hóa vật thể: Trong Luật di sản văn hóa thì văn hóa vật thể "là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [54, tr 2]. - Khái niệm Di tích: Theo Hán Việt tự điển di là cái sót lại, rơi lại, để lại; tích là tàn tích, dấu vết. Vậy di tích là tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ.
- Khái niệm Di tích lịch sử văn hóa: Luật Di sản văn hóa nêu rõ: "Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”. Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a, Công trình xây dựng, địa điểm gắn với các sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. b, Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c, Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d, Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ, Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến túc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. - Khái niệm Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá.2012) 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2012) "Bảo vệ" được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ của các di sản.
Mặt khác, khái niệm này cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, tôn tạo, bảo quản, gia cố. nhằm duy trì tính nguyên gốc và sự toàn vẹn của các di sản văn hoá. "Phát huy" trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hoá trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời, khái niệm "phát huy" cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác. Tuy nhiên, nếu sử dụng từ "khai thác" thay cho "phát huy" di sản văn hoá thì sẽ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng.
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ, biện chứng. Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối, ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa. Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị của di sản. Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản tốt nhất, lưu giữ những giá trị đó trong ý thức cộng đồng xã hội.
Di tích lịch sử và di tích văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau. Di tích lịch sử nào cũng có yếu tố văn hóa và di tích văn hóa luôn hàm chứa trong nó yếu tố lịch sử. Ví dụ, sự kiện Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đông Hán năm 40 là một sự kiện lịch sử, mở đầu cuộc đấu tranh chống ách cai trị của Trung Hoa. Sau khi Hai Bà Trưng mất, nhân dân lập đền thờ để tỏ lòng thương tiếc.
Vậy đền thờ Hai Bà Trưng ở Vĩnh Phúc trước hết là một di tích lịch sử. Tuy nhiên, hàng năm dân chúng địa phương khắp nơi trong cả nước đến đền thờ Hai Bà Trưng tổ chức lễ dâng hương kỉ niệm tưởng nhớ công lao của hai bà, tổ chức các lễ hội văn hóa ở đây. Do đó, đền thờ Hai Bà Trưng còn là một di tích văn hóa. Thật khó tách bạch giữa di tích lịch sử và di tích văn hóa.2012) 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Hệ thống di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hoá mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều đình, đền, chùa, có những di tích được Viện Viễn Đông Bác Cổ thời Pháp thuộc xếp hạng bảo vệ, như đình Bạch Lưu (Lập Thạch), chùa Cói (Vĩnh Yên), chùa Kỳ Lân (Vĩnh Tường)… Những di chỉ khảo cổ ở Lũng Hòa, Đồng Đậu, Thành Dền… đã khẳng định Vĩnh Phúc là một trong những vùng đất cổ, là trung tâm của nước Văn Lang. Toàn tỉnh hiện có 1.265 di tích trong đó 65 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 310 di tích xếp hạng cấp tỉnh.1 Số lượng di tích phân bố theo địa bàn huyện Loại DT Lưu niệm Nhà thờ họ Khảo cổ Chùa Khác Miếu Tổng Đình Đền Huyện Bình Xuyên 43 43 17 33 3 0 1 1 141 Lập Thạch 70 86 27 35 1 8 0 24 238 Phúc Yên 26 20 14 10 0 0 1 2 74 Tam Dương 50 57 6 22 0 2 0 2 139 Tam Đảo 24 34 28 7 0 0 1 15 109 Vĩnh Tường 69 79 11 28 4 6 2 51 250 Vĩnh Yên 25 30 9 21 0 0 2 29 116 Yên Lạc 64 56 16 25 4 15 0 19 199 Tổng số 371 405 128 171 12 31 7 140 1.265 Nguồn: Điều tra di sản văn hoá phi vật thể Vĩnh Phúc 2005-2007. Bảng thống kê này cho thấy mật độ phân bố các di tích lịch sử khá đều khắp các huyện thành thị trên địa bàn tỉnh.
Loại hình di tích chủ yếu là đình, (LUAN.2012) 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các di tích tập trung chủ yếu ở các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, là những địa bàn đồng bằng, trung du, thuận lợi cho đi lại, phân bố các di tích. Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Phúc như sau: 1. Khu di tích danh thắng Tây Thiên Khu danh thắng Tây Thiên thuộc dãy núi Tam Đảo, được coi là nơi “Linh khí núi sông đất Việt”.
Khu danh thắng này gồm một quần thể di tích lịch sử - văn hoá lâu đời với hệ thống đình, đền, chùa, bia đá cổ và hệ động - thực vật phong phú, phong cảnh tự nhiên hùng vĩ với suối Vàng, thác Bạc, khe Trường sinh, suối Giải oan, cây đa 9 cội… phân bố trên một diện tích khoảng 15 km2, trong đó khu đền Thượng nằm ở độ cao 530 m so với mực nước biển, gắn với truyền thuyết về Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu1. Tây Thiên được xem là một trong những nơi phát tích của đạo Phật ở Việt Nam từ thế kỷ thứ II TCN với hàng loạt các chùa cổ như chùa Tây Thiên (Tây Thiên Tự), còn gọi là chùa Thượng, chùa Thiên Ân, chùa Phù Nghì, chùa Đồng Cổ, chùa Gốc Gạo, chùa Đổ, chùa Chân Tiên… Tên gọi Tây Thiên, tức “Bầu trời Tây” mang ý nghĩa là “nơi các nhà sư Tây Thiên (Ấn Độ) tu hành”, được đặt để ghi nhớ giáo đoàn đầu tiên từ Ấn Độ vào Việt Nam truyền đạo. Vào thế kỷ III TCN, phái bộ thứ tám của vua A Dục đã tới nơi hoằng dương Phật pháp. Bị thu hút bởi cảnh sắc núi non liên hoàn, hùng vĩ, giáo đoàn đã dừng chân tu hành, xây dựng thành Nê Lê và chùa Địa Ngục.
Từ thời Trần, Tây Thiên trở thành một trong những trung tâm Phật giáo của đất nước. Tại đây có ba bia mộ đá và di cốt của Giác Linh Ngã Thiền sư, Võng Sơn Thiền sư, Cúc Khê Thiền sư. Ngoài ra, còn nhiều nền chùa cổ và các di chỉ hiếm hoi dưới nền đất rừng Tây Thiên được ghi lại trong sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn. Tây Thiên cũng là nơi ẩn tu nghiêm cẩn của các sư cô tại Tịnh thất Tây Thiên 1 Theo truyền thuyết, bà Lăng Thị Tiêu là Chính phi của vua Hùng Vương đời thứ 7, có công giúp vua Hùng đánh giặc giữ nước, dạy nhân dân cách trồng lúa và làm nên sự tích bánh Chưng bánh Dày.2012) 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2012) theo Phật giáo Mật tông, truyền thừa Drukpa.
Do thời gian, hầu hết các chùa đều đã bị đổ nát, chỉ còn dấu tích hoặc mới được dựng lại, chỉ còn chùa Tây Thiên. Tây Thiên còn có hệ thống di tích thờ thần như đền Tây Thiên, đền Thõng, đền Cả, đền Cậu, đền Cô, đền Mẫu Sinh, mẫu Hóa [31]… Di tích danh thắng Tây Thiên được xếp hạng quốc gia năm 1991 theo Quyết định số 1371/QĐ của Bộ Văn hóa Thông tin. Đền thờ Hai Bà Trưng Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) là cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên giành thắng lợi của nhân dân ta, lật nhào ách thống trị kéo dài 219 năm của phong kiến phương Bắc đô hộ. Nhân dân Vĩnh Phúc đã lập đền thờ tại thôn Hạ Lôi, xã Mê linh, huyện Mê Linh, hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ công đức của Hai Bà và các tướng lĩnh vào ngày mùng Sáu tháng Giêng.
Đền thờ Hai Bà toạ trên một khu đất cao thoáng đãng. Theo thuyết phong thuỷ: Đền toạ lạc trên thế đất "Trán con voi trắng" trong hình cao “Bạch tượng uyên hồ” (voi trắng uống nước trong hồ), nay vẫn còn vết tích của những nơi như ao Mắt Voi, vòi voi và hồ Ao bàng, phía trước là đường kéo quân của Hai Bà Trưng xưa kia chạy vòng phía trước đền. Sau đền là khu vực thành cổ gồm hai lớp: trong là thành, ngoài là quách, dân gian gọi là Thành Ống. Đền thờ Hai Bà Trưng hiện nay có các công trình: Tam quan, nhà tiền tế, nhà trung tế và hậu cung.
Phía ngoài hậu cung có cây Lụa già, là hộp thư bí mật tại đây của cán bộ trong những năm 1943- 1944. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng, đã chọn đền thờ Hai Bà Trưng làm một trong những nơi hội họp bí mật để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội ngày 19-8-1945.