Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ DI TÍCH ĐÌNH LINH ĐÀM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Di tích lịch sử văn hóa Theo Luật Di sản văn hóa sửa đổi, “DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [28, tr. Di sản văn hóa chính là những giá trị do con người sáng tạo ra, là tài sản văn hóa quý giá của mỗi cộng đồng, thể hiện trình độ phát triển kinh tế và trình độ tổ chức, quản lý xã hội của cộng đồng đó.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [28, tr. Di sản văn hóa phi vật thể tồn tại trong tiềm thức, tinh thần của con người, nó mang rất nhiều giá trị như các tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn, các tập quán, phong tục, lối sống, nếp sống,. được hình thành trong quá trình sinh sống, sản xuất của cộng đồng người, được chắt lọc, gìn giữ, sáng tạo và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác thông qua các hình thức truyền miệng, truyền nghề. “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [28, tr.
Như vậy, di sản văn hóa vật thể chính là những sản phẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình hàng nghìn năm lao động và sản xuất, được lưu truyền qua các thế hệ ở dạng vật chất cụ thể mà chúng ta có thể nhìn thấy, sờ thấy, chạm vào được, đó chính là những hiện vật xác định được về hình khối, màu sắc, hình dáng, kích thước, cả thời gian và không gian tồn tại. Vì vậy, di sản văn hóa vật thể luôn luôn đứng trước thách thức bởi sự tác động của thời gian, của thiên nhiên và con người. Nếu không có những giải pháp bảo tồn và phát huy đúng đắn, di sản văn hóa vật thể rất dễ bị mai một, thậm chí đứng trước nguy cơ biến mất. Di tích là một bộ phận của di sản văn hóa, nó là thành tố quan trọng và là thông điệp từ quá khứ gửi lại cho các thế hệ sau.
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, thuật ngữ di tích được đề cập đến trong nhiều tài liệu và nghiên cứu. Theo cuốn giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa lịch sử bất động” [9, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra lí giải về di tích như sau: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học.
Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy" [41, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Di tích là các dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa bất động” [26, tr. Tác giả đồng tình với lí giải về di tích theo Từ điển Bách khoa Việt Nam.
Theo đó, di tích không chỉ được hiểu đơn thuần là di vật cổ, mộ, lăng tẩm, lăng mộ. mà gồm rất nhiều những dấu vết do quá khứ để lại, đặc biệt những di tích này phải được pháp luật bảo vệ, không ai được phép tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy hệ thống các di tích đó. Các di tích được hình thành từ hoạt động lao động sáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể vừa phong phú vừa đa dạng về các loại hình. Trải qua thời gian những sản phẩm đó được tồn tại đến ngày nay, có những sản phẩm mang những giá trị có tính chất tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử văn hóa, khoa học nên được công nhận là di tích.
Quản lý Nhà nước về văn hóa Tư tưởng và quan điểm về “quản lý” đã có từ lâu, nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mới có các sách và nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách Các nguyên tắc quản lý theo khoa học. Tiếp đó là Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo hay Mariparker Follit, nhà khoa học chính trị, triết học Mỹ đều có những nhận định về quản lý đáng để tham khảo. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [41]: “Quản lý” khi là động từ sẽ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nhìn chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng.
Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau. Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước [13] của Học viện Hành chính Quốc gia, “quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý”. Có thể nói, khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây luận văn chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến.
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Từ những định nghĩa và quan niệm trên, bằng sự trải nghiệm của bản thân, tác giả luận văn có thể đưa ra quan niệm về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý.
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao. Quản lý Nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Khái niệm “quản lý văn hóa” trong xã hội hiện đại được hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước.
Nhìn vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân. Quản lý văn hóa là một lĩnh vực cụ thể và cần được nghiên cứu vì: Thứ nhất, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người. Hoạt động đó đòi hỏi phải có những không gian dành riêng, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có khả năng sáng tạo theo khả năng của mình. Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội.
Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội [12]. Quản lý văn hóa là một nội dung rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực.