Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI HOA VÀ DI TÍCH HỘI QUÁN ÔN LĂNG Ở QUẬN 5 1. Một số khái niệm Liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có rất nhiều khái niệm, định nghĩa. Để phục vụ tốt cho việc triển khai đề tài, tác giả xin nêu một số khái niệm như: “di sản văn hóa”, “di tích” và “di tích lịch sử - văn hóa”, “di tích kiến trúc nghệ thuật”, khái niệm “giá trị”, “bảo tồn và phát huy”, “quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa” và khái niệm “người Hoa”. - Di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [42]. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. [42] Tuy nhiên sự phân định này thực ra cũng chỉ mang tính tương đối nhằm để nghiên cứu đặc tính riêng của từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể rất khó để có sự phân định rạch ròi bởi hai yếu tố này gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Khi đó di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lỗi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật 16 thể.
Còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy. - Di tích và Di tích lịch sử văn hóa Thuật ngữ di tích lịch sử văn hóa ở nhiều nước trên thế giới đều dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hóa con người. Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử [63]. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam: Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [42].
- Di tích kiến trúc nghệ thuật Về phân loại, các di sản văn hóa vật thể dưới dạng di tích được chia ra 4 loại hình: Di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh [16]. Trong đó, di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc [42]. Di tích kiến trúc nghệ thuật được chia ra các loại: Di tích tín ngưỡng tôn giáo, di tích thành quách lăng mộ, di tích đô thị cổ, khu phố cổ, dinh thự, nhà ở dân dụng, vườn cảnh… [40]. - Giá trị Để hiểu rõ giá trị của di tích lịch sử văn hóa ta cần làm rõ khái niệm về giá trị.
Theo Ngô Đức Thịnh: “Giá trị là quan niệm về cái có ý nghĩa, được cộng đồng xã hội lựa chọn, cùng nhau chia sẻ và tôn vinh. Đối với mỗi thành viên trong nhóm, giá trị là cái đáng ước ao và khi đạt được sẽ bùng nổ sự thăng hoa tinh thần. Chính vì vậy thực thi giá trị có tác dụng điều tiết đối với hoạt động của con người, tìm hiểu giá trị có giá trị giúp ta tiếp cận các động lực ẩn tàng trong đời sống xã hội” [48, tr. Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm giá trị dưới góc độ di tích, và như vậy, giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở đây có thể hiểu với tư cách là 17 yếu tố có ích cho mọi người, cho cộng đồng, dân tộc được cộng đồng lựa chọn.
Nhờ vai trò, tính hữu ích, ý nghĩa tinh thần cao cả mà giá trị di tích lịch sử văn hóa được cộng đồng và xã hội thừa nhận, hướng tới và tôn vinh. Và, đối với di tích kiến trúc nghệ thuật đó là sự kết tinh những giá trị trong những cấu trúc về kỹ thuật xây dựng, tổ hợp không gian kiến trúc, sự biểu đạt về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức về sự giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người gắn liền với giá trị nhân văn về những giá trị văn hóa phi vật thể. Và chính từ những yếu tố đó, công trình trở thành tiêu biểu, mang dấu ấn của thời đại, phản ánh các đặc thù về kinh tế, chính trị xã hội… của dân tộc theo từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội. - Bảo tồn và Phát huy Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Bảo tồn là gìn giữ (cái có ý nghĩa lịch sử thuộc tài sản chung), không để bị mất mát, tổn thất [36, tr. Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó [41]. Phát huy là làm cho cái hay cái tốt lan rộng tác dụng và tiếp tục phát triển thêm [36, tr. Vậy bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa là những hoạt động diễn ra thường xuyên nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của nó, để cho cái hay cái đẹp của di tích lan tỏa làm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay nhưng vẫn đảm bảo lợi ích cho thế hệ mai sau.
Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội. 18 Hiểu theo một cách chung nhất thì bảo tồn giá trị di tích là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa của di tích. Phát huy là làm cho những cái hay, cái tốt phát triển thêm trong đời sống văn hóa tinh thần của con người.
Bảo tồn và phát huy di tích không phải là các hoạt động cản trở nhau, mà trong một chừng mực nào đó bảo tồn còn là cơ sở cho sự phát triển của di tích theo đúng hướng. Thông qua phát triển, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa của di tích tốt hơn. - Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa Theo Điều 54 Luật Di sản văn hóa Việt Nam ban hành năm 2001, nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá; tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá; tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá. Về cơ bản, quản lý di sản văn hóa là quản lý các hoạt động của con người, môi trường có thể tác động đến di sản văn hóa.
Như vậy, có thể hiểu quản lý di sản là thiết lập mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồng dân cư địa phương, nơi có di sản. Ở Việt Nam, quản lý nhà nước về văn hóa có vai trò quan trọng, chi phối hiệu quả các hoạt động văn hóa. Để quản lý hiệu quả, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, loại bỏ những lạc hậu, tiêu cực, phi giá trị. Cùng với việc ban 19 hành pháp luật, Nhà nước cũng tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, thuận lợi cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
- Người Hoa Người Hoa là một trong 54 dân tộc được công nhận ở Việt Nam, cư trú tại nhiều địa bàn khác nhau trong cả nước. Theo các nhà nghiên cứu, có năm tiêu chí để nhận diện người Hoa, gồm: (1) Có nguồn gốc Hán hay bị Hán hóa; (2) Sống ổn định và thường xuyên ở nước ngoài; (3) Đã nhập quốc tịch nước sở tại; (4) Ít hoặc nhiều chưa bị đồng hóa; (5) Tự nhận mình là người Hoa [Dẫn theo 34, tr. Về mặt pháp lý, tên gọi chính thức là “người Hoa” bắt đầu từ năm 1946.