chương I của Luật Di sản văn hóa (2001): “Bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [42, tr. Việc làm này cần được mỗi một công dân Việt Nam nêu cao ý thức của mình cho những di tích lịch sử văn hóa của quốc gia, dân tộc. Như vậy, bảo tồn di sản nói chung, bảo tồn di tích nói riêng, được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản, di tích đó theo dạng thức vốn có của nó, giúp nó được tồn tại với thời gian theo một khoản không gian nhất định của di sản hay di tích đó. Quan điểm bảo tồn, bảo tồn di tích Các quan điểm về quản lý di sản một phần giống như quan điểm về bảo tồn, nhưng không hoàn toàn trùng khớp với nhau.
Trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn nhưng chung quy lại vẫn có hai quan điểm về bảo tồn được phổ biến đó là quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa. 1/ Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, được nhiều học giả cho rằng: Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn không phải không có cơ sở khoa học của nó, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có, để tránh tình trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, sê dịch, biến dạng… Tác giả Tô Vũ cho rằng: “Khi nói tới bảo tồn, ta luôn nghĩ đến gìn giữ toàn bộ và nguyên vẹn đối tượng cần bảo tồn”. Ông yêu cầu đối tượng bảo tồn phải thỏa mãn hai điều kiện: 1/ Đối tượng đó được cho là tinh hoa, có giá trị đích thực và không tồn tại sự hồ nghi khác; 2/ Đối tượng đó đã từng tồn tại lâu dài với đời sống vật chất và tinh thần của con người. 36-37] 18 Một tác giả khác (không rõ) cho rằng: “Bảo tồn” là giữ lại, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái… Đối tượng bảo tồn phải được nhìn là tinh hoa, phải khẳng định được giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian dưới nhiều hình thức khác nhau của chúng.37] Cả hai quan điểm trên có tính tương đồng, “quan điểm bảo tồn” là gìn giữ đối tượng theo thời gian được bền vững, nguyên vẹn, không bị biến đổi hai biến thái.
Theo quan điểm của ông Gregory J.Ashworth: ông cho rằng quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được phát triển đầu tiên từ những năm 1850 và nhiều người cho rằng đây là quan điểm gần như đóng vai trò chủ đạo.37] Từ quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, đặc biệt là của của ông Gregory J.Ashworth được rất nhiều nhà bảo tồn, bảo tàng ủng hộ trong lĩnh vực di sản văn hóa. Họ cho rằng, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như cái vốn có của nó, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cũng như cố gắng tách di sản ra khỏi môi trường xã hội hiện đại [88]. Mỗi một di sản đều chứa đựng những giá trị văn hóa xã hội nhất định, biến đổi theo thời gian, chịu sự tác động từ môi trường bên ngoài nên khó đảm bảo được những tầng lớp thế hệ hiện tại hiểu đúng được giá trị văn hóa của thế hệ trước. Nên quan điểm bảo tồn nguyên vẹn rất khó thực hiện, đòi hỏi những chuyên gia nghiên cứu phải có những kiến thức sâu nhất định về chuyên môn, việc tầm tư liệu cũng vậy, phải có tính xác thực để mong có kết quả chính xác.
2/ Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa Quan điểm này được xem là một xu thế phổ biến hơn quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, dễ thực hiện hơn trên một đối tượng, việc gìn giữ và duy trì đối tượng đó theo quá trình lịch sử, thời gian và không gian trong môi trường cụ thể cũng dễ dàng hơn. 19 Nhiều học giả nước ngoài như Alfrey, Putnam, Ashworth và P. Lark- ham xem đối tượng cần bào tồn trên cơ sở kế thừa như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý đối tượng đó tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản. [88] Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Đời sống mới có nêu ra những quan điểm rõ rang về sự kế thừa: cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm.
Đây được tác giả Bùi Hoài Sơn khẳng định đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa trên sự kế thừa.41] Từ đó cho thấy, cả hai quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau. Bảo tồn nguyên vẹn thì cần xác định yếu tố gốc, nguyên thủy ban đầu, còn bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì cần chọn lọc xen yếu tố giá trị của đối tượng. 3/ Quan điểm bảo tồn để phát triển Từ việc xác minh được hai quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa trên thì nên thêm một quan điểm về bảo tồn nữa là “Bảo tồn để phát triển”, việc này rất cần để áp dụng cho di sản nói chung, di tích, di tích lịch sử nói riêng, nhất là các nhà làm quản lý di sản, di tích. Ở nước ngoài, có những nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản [88].
Nghĩa là bảo tồn để phát triển gắn với du lịch, họ quan tâm việc gắn di sản văn hóa với phát triển du lịch, khẳng định tính đa dạng về quan điểm này trong sáng tạo của con người. Theo giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa của Trịnh Thị Minh Đức (Chủ biên) nói về đặc trưng cơ bản của bảo tồn di tích là quan điểm về bảo tồn di tích là nghiên cứu phát hiện giá trị di tích, tiến hành bảo quản, tu bổ để giữ 20 gìn lâu dài di tích, trên cơ sở đó có thể thực hiện khai thác các giá trị của di tích phục vụ xã hội [18, tr. Điều này có nhiều điểm tương đồng với những quan điểm trên. Vậy Quan điểm bảo tồn di tích là gìn giữ cái vốn có của di tích và có thể thay biến đổi cái vốn có đó theo chiều hướng mới sao cho phù hợp với giá trị của di tích và phù hợp với xã hội thời đại.
Khái niệm và quan điểm phát huy và phát huy di tích 1. Khái niệm phát huy và phát huy di tích Vẫn theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên): Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm. Như vậy, phát huy chính là làm cho điều gì đó phát triển thêm theo chiều hướng tích cực. Thêm một khái niệm khác về “Phát huy” của Trịnh Thị Minh Đức: “Là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của di sản văn hóa” [18.
Khi tất cả công chúng đều có sự chú ý tích cực, tương tác tốt với di tích thì điều này giúp di tích đó được phát huy có hiệu quả. Kết hợp cả hai khái niệm trên để hiểu được khái niệm hay ý nghĩa của việc phát huy của di tích hay giá trị lịch sử văn hóa của một di tích là một trong hai chức năng của hoạt động bảo tồn di tích, là quá trình khai thác các giá trị di tích phục vụ xã hội hiện đại và tương lai, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa xã hội ngày càng tốt hơn. Quan điểm phát huy và phát huy di tích Việc bảo tồn và phát triển tuy nói đơn giản nhưng quá trình công việc diễn ra rất dài và phức tạp, nhạy cảm, cần sự kiên trì, đồng bộ, thông qua nhiều giải pháp tích cực, có sự can thệp của Luật pháp, chính sách, cơ chế, tuyên truyền và giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường quản lý Nhà nước 21 với việc khơi dậy và phát huy ý thức trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức xã hội.15] Cụ thể bảo tồn di sản, di tích không riêng việc giữ gìn bản sắc cho dân tộc, cho quê hương đất nước để nó được tồn tại trong đời sống thực mà còn cần phải phát huy nó, đưa các giá trị của di sản, di tích phát triển với cộng đồng, hòa mình vào xã hội đương đại. Theo điều 12, chương 1 trong Luật Di sản văn hóa (2001) có nói đến Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích: 1/ Phát huy giá trị Di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội; 2/ Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; và 3/ Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng Di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế [42, tr.11] Đây là những điểm liên quan đến khái niệm phát huy nói chung và cụ thể là phát huy Di sản văn hóa Việt Nam nói riêng.
Phát huy là làm tăng giá trị cho một đối tượng nào đó cụ thể, phát huy theo chiều hướng làm tăng những giá trị tốt đẹp của đối tượng đó, nếu đối tượng đó là Di sản văn hóa thì làm tăng các giá trị Di sản văn hóa. Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hóa cho dân tộc hiện nay cần phải làm tốt hơn nữa, phải huy động mạnh mẽ nhiều sự đóng góp, tham gia của toàn thể xã hội, đặc biệt đối với việc tăng cường quản lý của các cấp chính quyền Nhà nước, phối hợp với ý thức và trách nhiệm của nhân dân. Cần đẩy mạnh việc xây dựng “quy hoạch, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa”, tạo điều kiện xem việc này thuộc lĩnh vực khoa học chuyên sâu, đào tạo đội ngũ chuyên gia lành nghề và yêu nghề… Những việc làm này giúp đảm bảo tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích.