Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di tích lịch sử- văn hóa và tổng quan về khu di tích Bà Triệu Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 10 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật Quốc gia đặc biệt Bà Triệu. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật Quốc gia đặc biệt Bà Triệu. Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH BÀ TRIỆU 1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 1.
Một số khái niệm 1. Di sản Văn hóa Luật Di sản văn hóa Việt Nam định nghĩa rằng: “Di sản văn hóa (DSVH) Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân ta” [32, tr5]. Theo Công ƣớc của UNESCO 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì DSVH là các di tích, các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Các di chỉ: Các tác phẩm do con ngƣời tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Trong Luật sửa đổi một số điều của Luật Di sản Văn hóa (DSVH) năm 2009 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 điều 1 quy định rằng: “DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 12 thế hệ này qua thế hệ khác ở nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [33, tr60]. “DSVH phi vật thể là sản phẩm gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa có liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng tái tạo và đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [33, tr9]. “DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử-văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [33, tr33].
Sự phân biệt trên chỉ mang tính tƣơng đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, còn thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Khi đó DSVH phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, biểu hiện tinh thần của DSVH vật thể, còn cái hiện hữu, cái làm nên DSVH vật thể tồn tại nhƣ là biểu hiện vật chất của di sản phi vật thể ấy. Chính vì thế, ngƣời ta còn có cách phân loại khác dựa trên các giá trị của di sản để phân biệt chúng thành những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay mức độ quan trọng cấp quốc tế, có giá trị cấp quốc gia và di sản có giá trị cấp địa phƣơng. Di sản có tầm quan trọng quốc tế là những DSVH thế giới hoặc những di sản đƣợc nhà nƣớc lập hồ sơ gửi UNESCO xem xét công nhận là DSVH thế giới; Nhóm di sản thuộc cấp quốc gia bao gồm những di sản đƣợc xếp hạng di tích quốc gia quan trọng đặc biệt, một số làng nghề truyền thống nổi tiếng, hay những lễ hội lớn mà tầm ảnh hƣởng của nó vƣợt khỏi phạm vi một tỉnh, một vùng.
Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 13 Nhóm di sản thuộc cấp địa phƣơng bao gồm những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đƣợc xếp hạng cấp tỉnh, nó có tầm ảnh hƣởng, thu hút không vƣợt ra khỏi giới hạn của huyện, thị xã. Di tích Di tích là một bộ phận của di sản, là thành tố quan trọng của môi trƣờng xã hội, là thông điệp của quá khứ gửi lại cho các thế hệ mai sau, nó có năng lực trƣờng tồn cùng thời gian. Quan tâm đến di tích, chăm lo bảo tồn di tích đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong xã hội văn minh. Rất ít tài liệu đƣa ra khái niệm di tích, nhƣng thuật ngữ di tích lại đƣợc nhiều từ điển đề cập tới.
Từ điển Tiếng Việt cho rằng “Di tích là cái của người xưa để lại", có nghĩa dấu vết hoặc di vật của con ngƣời và những giai đoạn lịch sử đã qua còn hiện hữu đến tận ngày nay thì đƣợc coi là di tích [31, tr. Trong cuốn từ điển Từ và ngữ Việt Nam đã giải thích: di có nghĩa là còn lại, tích là dấu vết, hay nói cách khác di tích là dấu vết từ trƣớc để lại và có giá trị lịch sử, trong tài liệu tác giả có trích dẫn lời của cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng: “Một nƣớc không có di tích lịch sử thì mất ý nghĩa đi” [34,tr.511] Nhƣ vậy, di tích hình thành từ sự sáng tạo của con ngƣời là cộng đồng, nhóm ngƣời hoặc cá nhân trong lịch sử để lại, tồn tại bằng những không gian hiện trạng muôn hình, muôn vẻ, với nhiều bộ phận cấu thành nhƣ môi trƣờng, cảnh quan thiên nhiên, công trình kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật… Tùy theo mỗi loại di tích mà những thuộc tính trên đây đã tạo thành các di tích. Di tích dù đƣợc hiểu dƣới khía cạnh nào, ngôn ngữ của dân tộc nào cũng đều có ý nghĩa chung là những hiện vật của quá khứ còn lại, đang hiện hữu nhƣ một tất yếu của lịch sử. Điều 29 của Nghị định số Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 14 92/2002/NĐ-CP đã quy định tất cả “các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh thì được gọi chung là di tích” [30, tr57].
Di tích lịch sử văn hóa DTLS-VH là một bộ phận quan trọng của DSVH là dấu tích, vết tích còn lại. Mỗi nƣớc cũng đƣa ra những khái niệm về DTLS-VH của dân tộc mình. Điều 1, trang 12, Hiến chƣơng Vermice quy định: “DTLS-VH bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử”. Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về DTLS-VH, thông thƣờng nhất theo Từ điển Bách khoa thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tƣợng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học.
Di tích là DSVH - lịch sử đƣợc pháp luật bảo vệ, không ai đƣợc tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [tr. Luật DSVH do Quốc hội nƣớc CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật DSVH năm 2009 quy định: “DTLS-VH là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. Trong đó, Danh lam thắng cảnh đƣợc hiểu là “cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học”. Cổ vật đƣợc hiểu “là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”.
Bảo vật quốc gia đƣợc hiểu “là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nƣớc về lịch sử, văn hóa, khoa học”. Các loại hình di tích lịch sử- văn hóa theo Luật DSVH thì đƣợc phân loại là: Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 15 - Di tích lịch sử. - Di tích kiến trúc nghệ thuật - Di tích khảo cổ học - Danh lam thắng cảnh DTLS - VH phải có một trong bốn tiêu chí cụ thể nhƣ sau: - Công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc; - Công trình, địa điểm xây dựng gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến; - Địa điểm có giá trị tiêu biểu về mặt khảo cổ; - Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về mặt kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [50]. Nhƣ vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về DTLS-VH, nhƣng các khái niệm đều có chung một quan điểm đó là: DTLS-VH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Di tích Quốc gia đặc biệt: Các di tích đƣợc hình thành từ hoạt động lao động sáng tạo của con ngƣời trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, tồn tại dƣới dạng vật chất cụ thể vừa phong phú vừa đa dạng về các loại hình. Trải qua thời gian những sản phẩm đó đƣợc tồn tại đến ngày nay, có những sản phẩm mang những giá trị có tính chất tiêu biểu, đặc trƣng về lịch sử văn hóa, khoa học nên đƣợc công nhận là di tích. Theo Luật di sản văn hóa quy định tại điều 29 đã quy định rõ việc xếp hạng di tích phải căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của DTLS-VH và danh lam thắng cảnh.