Tổng quan nghiên cứu

Dân tộc Thái là một trong những cộng đồng thiểu số có bề dày lịch sử và bản sắc văn hóa đặc sắc hàng đầu tại Việt Nam, chiếm khoảng 1,74% dân số cả nước. Riêng tại tỉnh Nghệ An, đồng bào dân tộc Thái đạt quy mô 295.132 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và chiếm tới 72,09% tổng số cư dân các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Không gian văn hóa Thái tại các huyện miền Tây Nghệ An như Quế Phong, Quỳ Châu, Con Cuông, Tương Dương hay Kỳ Sơn sở hữu khối di sản đồ sộ từ kiến trúc nhà sàn, trang phục thổ cẩm đến hệ thống dân ca khắp, nhuôn và chữ Thái cổ.

Tuy nhiên, trước sức ép của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và làn sóng giao lưu văn hóa đa chiều, văn hóa truyền thống của người Thái đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Tình trạng biến dạng phong tục, mai một chữ viết cổ và sự suy giảm không gian sinh hoạt cộng đồng đặt ra yêu cầu cấp bách đối với công tác quản lý công. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái tại Nghệ An, nhận diện các điểm nghẽn thể chế và nguồn lực, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý công giai đoạn 2020-2025.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống cơ quan quản lý văn hóa từ cấp tỉnh đến cơ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong mốc thời gian từ năm 2015 đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đóng góp luận cứ khoa học cho mục tiêu bảo tồn trên 85% giá trị di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, đồng thời chuẩn hóa hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đạt tỷ lệ trên 90% tại các thôn bản vùng đồng bào Thái sinh sống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về văn hóa và lý thuyết tiếp biến văn hóa trong bối cảnh phát triển bền vững. Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số được xác định là sự tác động liên tục, có tổ chức và mang tính quyền lực của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và bộ máy hành chính nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tộc người.

Mô hình nghiên cứu vận dụng chu trình quản lý công toàn diện bao gồm bốn trụ cột then chốt: hoàn thiện hệ thống thể chế chính sách, tổ chức và vận hành bộ máy nhân sự, huy động nguồn lực xã hội hóa, cùng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm trung tâm: di sản văn hóa vật thể (nhà sàn mai rùa khau cút, trang phục váy cóm, khăn piêu), di sản văn hóa phi vật thể (làn điệu khắp, nhuôn, múa xòe, chữ Thái cổ), bản sắc văn hóa tộc người và quản lý công trong phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị định 05/2011/NĐ-CP và Luật Di sản văn hóa năm 2001.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hơn 15 văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Ban Dân tộc tỉnh, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020, cùng hệ thống văn bản chỉ đạo như Quyết định 84/2006/QĐ-UBND và Quyết định 1163/QĐ-TTg.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực tế với cỡ mẫu 120 đối tượng, bao gồm 40 cán bộ công chức quản lý văn hóa cấp huyện, xã và 80 nghệ nhân, đồng bào dân tộc Thái tại các địa bàn trọng điểm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện đồng đều cho 3 nhóm Thái chính tại Nghệ An: Tày Mường, Tày Thanh và Tày Mười.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính, phương pháp quy nạp, diễn dịch và phương pháp so sánh liên vùng với các tỉnh Tây Bắc như Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình. Việc lựa chọn phương pháp này giúp bóc tách các đặc thù quản lý văn hóa vùng cao, làm rõ nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế trong bộ máy hành chính công. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn 2018-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô cộng đồng người Thái tại Nghệ An chiếm tới 24,4% tổng số người Thái trên cả nước, tạo nên một không gian văn hóa rộng lớn nhưng mức độ đồng bộ của thiết chế văn hóa cơ sở còn thấp. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng chỉ khoảng 45% nhà văn hóa thôn bản tại các huyện miền núi đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn trang thiết bị và không gian cho hoạt động văn nghệ dân gian truyền thống.

Thứ hai, tốc độ mai một các giá trị văn hóa phi vật thể diễn ra nhanh chóng qua các thế hệ. Tỷ lệ thanh niên người Thái dưới 30 tuổi biết đọc, viết thành thạo chữ Thái cổ chỉ đạt dưới 5%. Hơn 60% lao động trẻ đi làm việc tại các khu công nghiệp ngoại tỉnh có xu hướng từ bỏ trang phục truyền thống và ít tham gia các sinh hoạt văn hóa dân gian như hát đối đáp khắp, nhuôn.

Thứ ba, cơ cấu phân bổ nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn văn hóa dân tộc còn nhiều bất cập. Ngân sách nhà nước cấp cho các đề án sưu tầm, khôi phục di sản phi vật thể chỉ chiếm khoảng 12% tổng chi ngân sách văn hóa hàng năm của các huyện miền núi. Mức độ huy động nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp và cộng đồng mới đạt xấp xỉ 18%, phần lớn các hoạt động bảo tồn vẫn dựa dẫm vào nguồn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách tỉnh.

Thứ tư, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý sai phạm trong lĩnh vực văn hóa còn hạn chế. Trong giai đoạn 2015-2020, ngành chức năng địa phương đã thực hiện hơn 30 cuộc kiểm tra văn hóa cơ sở nhưng chủ yếu tập trung vào hoạt động tổ chức lễ hội định kỳ, chưa kiểm soát và ngăn chặn hiệu quả các hiện tượng mê tín dị đoan biến tướng, cũng như việc thương mại hóa sai lệch các nghi lễ dân gian.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cán bộ về vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế bền vững. Nhiều địa phương vẫn xem công tác văn hóa dân tộc thiểu số là hoạt động cứu trợ, hỗ trợ thụ động thay vì coi đây là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế du lịch và gắn kết cộng đồng.

Khi đối chiếu với các mô hình thành công tại tỉnh Hòa Bình (như Bản Lác hình thành 8 đội văn nghệ chuyên nghiệp gồm 15 thành viên mỗi đội) hay tỉnh Điện Biên (bảo tồn thành công Lễ hội Hạn Khuống và Xên Pang gắn với phong tặng nghệ nhân ưu tú), Nghệ An vẫn chưa tạo dựng được mối liên kết hữu cơ giữa bảo tồn văn hóa Thái với chuỗi giá trị du lịch cộng đồng homestay.

Để nâng cao tính trực quan trong báo cáo quản lý, hệ thống dữ liệu thực trạng có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép so sánh tương quan giữa nhu cầu kinh phí thực tế và nguồn ngân sách được cấp cho 10 huyện miền núi. Đồng thời, một bảng tổng hợp cơ cấu nhân lực văn hóa cơ sở phân theo trình độ chuyên môn và khả năng sử dụng tiếng dân tộc Thái sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện lỗ hổng năng lực thực thi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách đặc thù. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cần tiến hành rà soát, nâng cấp Quyết định số 84/2006/QĐ-UBND thành Đề án tổng thể bảo tồn văn hóa dân tộc Thái giai đoạn mới. Mục tiêu đặt ra là 100% các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn quản lý di sản được số hóa và chuẩn hóa quy trình thực hiện trong giai đoạn 2021-2023.

Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn cho bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa. Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Sở Nội vụ tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho 100% công chức văn hóa - xã hội tại các xã vùng cao. Phấn đấu đến năm 2025, trên 70% cán bộ văn hóa phụ trách địa bàn đồng bào Thái đạt chứng chỉ sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ viết dân tộc Thái.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa và gắn kết bảo tồn di sản với phát triển du lịch cộng đồng. Ủy ban nhân dân các huyện Quỳ Châu, Con Cuông, Tương Dương chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng tối thiểu 10 mô hình bản du lịch cộng đồng homestay đạt chuẩn văn hóa Thái truyền thống. Đặt mục tiêu nâng tỷ trọng nguồn vốn xã hội hóa trong công tác tu bổ, tổ chức lễ hội lên mức 35% tổng kinh phí vào năm 2025.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra và đẩy mạnh chuyển đổi số di sản. Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp cùng Ban Dân tộc tỉnh triển khai tối thiểu 15-20 cuộc thanh tra chuyên đề mỗi năm tại các điểm di tích và lễ hội lớn. Đồng thời, thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa 100% các tư liệu quý về chữ Thái cổ, dân ca, truyện thơ và nghi lễ truyền thống trước năm 2025 để phục vụ lưu trữ lâu dài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo, công chức tại Sở Văn hóa và Thể thao, Ban Dân tộc và Ủy ban nhân dân các huyện miền núi tỉnh Nghệ An. Luận văn cung cấp khung tham chiếu chính sách và các số liệu điều tra thực chứng, hỗ trợ trực tiếp cho quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm 2: Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Văn hóa học và Dân tộc học. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị với hệ thống lý luận quản lý nhà nước về văn hóa tộc người và phương pháp khảo sát thực địa chuẩn mực.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp lữ hành, hợp tác xã du lịch sinh thái và cộng đồng làm du lịch homestay tại vùng Bắc Trung Bộ. Luận văn cung cấp các phân tích sâu sắc về giá trị văn hóa bản địa, giúp doanh nghiệp thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa Thái chuẩn xác, tránh nguy cơ lai căng di sản.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn văn hóa trong và ngoài nước. Tài liệu là căn cứ khoa học rõ ràng để thẩm định, xây dựng các dự án tài trợ phát triển cộng đồng, trao truyền chữ viết cổ và nâng cao năng lực cho phụ nữ, thanh niên dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Những nét văn hóa đặc trưng nào của người Thái tại Nghệ An cần được ưu tiên bảo vệ khẩn cấp? Trọng tâm bảo tồn bao gồm hệ thống chữ Thái cổ, kiến trúc nhà sàn truyền thống nóc hình mai rùa khau cút, trang phục váy cóm dệt thổ cẩm, các điệu dân ca khắp, nhuôn và các nghi lễ cộng đồng lớn như lễ Xên Mường, Xên Bản nhằm gìn giữ tính nguyên bản của tộc người.

Đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong bộ máy quản lý văn hóa vùng cao tại Nghệ An hiện nay? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở đội ngũ công chức văn hóa - xã hội cấp xã còn thiếu về số lượng và yếu về kỹ năng chuyên môn tộc người. Khoảng 50% cán bộ văn hóa cơ sở chưa được đào tạo bài bản về nhân học, văn hóa dân tộc và chưa đọc, viết được chữ Thái cổ.

Nghệ An có thể học tập được kinh nghiệm gì từ mô hình du lịch Mai Châu và Điện Biên? Nghệ An cần học tập kinh nghiệm đưa quy chế giữ gìn bản sắc văn hóa thành tiêu chuẩn bắt buộc trong kinh doanh du lịch cộng đồng như tại Bản Lác (Hòa Bình), đồng thời đẩy mạnh phục dựng lễ hội truyền thống gắn với tôn vinh nghệ nhân dân gian như TP. Điện Biên Phủ đã thực hiện với Lễ hội Hạn Khuống.

Giải pháp nào giúp giải quyết bài toán thiếu hụt kinh phí quản lý văn hóa ở cơ sở? Giải pháp đột phá là chuyển từ cơ chế bao cấp hoàn toàn sang cơ chế đồng tài trợ và xã hội hóa, lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia với nguồn lực đóng góp của doanh nghiệp du lịch và cộng đồng bản địa thông qua các hoạt động trải nghiệm văn hóa có thu phí.

Vai trò của việc truyền dạy chữ viết Thái trong quản lý văn hóa công hiện nay là gì? Chữ viết là phương tiện cốt lõi lưu giữ toàn bộ tri thức dân gian, văn học và luật tục của tộc người Thái. Quản lý việc truyền dạy chữ viết không chỉ giúp lưu giữ di sản phi vật thể mà còn nâng cao lòng tự hào dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để bài trừ hủ tục và củng cố khối đại đoàn kết.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số, khẳng định văn hóa Thái là nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững của miền Tây Nghệ An.
  • Nghiên cứu phản ánh trung thực thực trạng văn hóa của 295.132 đồng bào Thái tại Nghệ An, làm rõ sự suy giảm không gian văn hóa truyền thống và những bất cập trong quản lý công giai đoạn 2015-2020.
  • Đóng góp khoa học then chốt của công trình là đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn kết chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa nhân sự, xã hội hóa nguồn lực và thanh tra chuyên ngành.
  • Lộ trình triển khai đến năm 2025 xác định rõ các mốc chỉ số định lượng về số hóa 100% tư liệu di sản, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho 70% cán bộ văn hóa cơ sở và phát triển 10 bản du lịch cộng đồng điểm.
  • Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực, kêu gọi sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền và cộng đồng nhằm đưa văn hóa Thái trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội giàu bản sắc.