Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái quát chung về văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam 1. Khái niệm cơ bản về văn hóa Thuật ngữ “văn hoá”, người ta sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và con người nên có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"[37] Theo khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh nêu văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người.
Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Theo văn kiện của Đảng: Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, NQ TW 5/ khóa 8, NQ33 “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày một quan niệm giản dị nhưng mang tính nguyên lý, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài là: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, với nội hàm hết sức sâu sắc, gồm các yếu tố: (1) 9 Xây dựng tâm lý: Tinh thần độc lập, tự cường.
(2) Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. (3) Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi nhân dân trong xã hội. (4) Xây dựng chính trị: dân quyền. (5) Xây dựng kinh tế” Định nghĩa về văn hóa theo Tổng giám đốc UNESCO (Fedirico Mayor) đã đưa ra như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
[41] Theo cuốn sách bài giảng Đại cương văn hoá Việt Nam, chủ biên Lê Thị Vĩnh Phúc -ThS. Hoàng Thị Thanh Loan đưa ra khái niệm: “Văn hoá là toàn bộ sự hiểu biết của con người, đúc kết thành phần các chuẩn mực và giá trị xã hội, thành truyền thống và thị hiếu, gọi chung là hệ giá trị xã hội. Hệ giá trị ấy biểu hiện thông qua hoạt động và toàn bộ sản phẩm của con người đã tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử. Đó chính là cơ sở để làm nên bản sắc riêng về văn hoá của một cộng đồng xã hội nhất định [21] Chúng ta hiểu cơ bản Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng 10 như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong phát triển. Người đã từng dạy: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”. (Hồ Chí Minh: Về văn hóa.
Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997, tr. “Văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải trong kinh tế và chính trị ” (Hồ Chí Minh toàn tập.367 - 369; NXB Chính trị quốc gia, 2002). Kinh tế là nền tảng vật chất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; kinh tế và văn hóa trong Tư tưởng Hồ Chí Minh cuối cùng đều phục vụ nhiệm vụ chính trị là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, đạo đức, văn minh. Khái niệm dân tộc thiểu số và văn hoá dân tộc thiểu số.
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Các nhà học giả cho rằng đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít. Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”,” dân tộc kém phát triển” có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia. Trên thực tế, khái niệm DTTS chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
Thuật ngữ dân tộc đa số và dân tộc thiểu số được hiểu như sau: Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tức tộc Kinh, dùng thuật ngữ này là nói trên phạm vi cả nước chứ không phải là nói trên địa bàn vùng miền hoặc địa phương nào đó. Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ và điều kiện phát triển cao, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình lâu dài dựng nước và giữ nước. Góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố, và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam. 11 Dân tộc thiểu số, thuật ngữ này không đồng nghĩa với dân tộc chậm phát triển, khái niệm là chỉ những dân tộc có số ít người hơn so với dân tộc đa số.
Mặt khác văn hoá dân tộc thiểu số được hiểu như sau: Trước hết theo khoản 2. điều 4 nghị định số 05/2011 NĐ-CP về công tác dân tộc ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc có định nghĩa: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[9] Rõ ràng, quan niệm về DTTS và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó được vận dụng và xem xét linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan điểm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc. song, những nội dung đã phân tích ở trên về cơ bản tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả thế giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới Vậy Văn hóa dân tộc thiểu số là toàn thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù dân tộc, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người này với tộc người khác (GS. Ngô Đức Thịnh trong cuốn sách Văn hoá, văn hoá tộc người và Văn hoá Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2006 [31] Văn hóa dân tộc là chỉ toàn bộ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số có quá trình sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện của sự thích ứng và sáng tạo của con người trong môi trường, hoàn cảnh tự nhiên và xã hội cụ thể; các giá trị đó vừa phản ánh những nét thống nhất, sự giao thoa văn hóa dân tộc người trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Bao gồm các dạng thức văn hóa sau: Văn hóa vật thể: Văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng của các nền văn hóa, văn minh nhân loại. Văn hóa vật thể bao gồm cấu trúc thôn bản, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống, đồ thủ công, vật dụng sinh hoạt, công cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển. 12 Văn hóa phi vật thể: Là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữu bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác. Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thống tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác.
Nhận diện văn hoá dân tộc thiểu số Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống, đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa - xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các nghi thức, thiết chế xã hội… được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong hoạt động sống của mỗi con người, cũng như của toàn xã hội, được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác. Bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử, tự nhiên, môi trường cư trú, thể chế chính trị cũng nhự sự giao lưu với các nền văn hóa khác. Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc đã sáng tạo ra nền văn hóa đó. Bản sắc văn hóa cũng chính là bản sắc văn hóa của dân tộc ấy.
Mỗi khi nghe một làn điệu dân ca, âm thanh của một nhạc cụ, hay xem một điệu múa là ta có thể nhận biết được sắc thái của dân tộc đó.