Chương 1 KHÁI QUÁT QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐOÀN CHÈO HẢI PHÒNG 1. Các khái niệm cơ bản Những quan điểm cơ bản của Đảng về văn hóa - văn nghệ được hình thành và phát triển trong quá trình thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền văn hóa thể hiện trong các văn bản, nghị quyết của Đảng kết hợp với thực tiễn văn hóa, thực tiễn cách mạng và kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo cơ bản của mình đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa ấy.Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý đóng vai trò rất quan trọng. Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý sẽ góp phần định hướng và điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc. Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.
Trong những năm qua, quán triệt tinh thần. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Chăm lo cho văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, thiếu văn hóa hoặc không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với mục tiêu cuối cùng là văn hóa thì không thể có sự phát triển bền vững của xã hội.
Quản lý Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh. theo lý thuyết hệ thống: Quản lý là sự tác 10 động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống [19, tr. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt tới các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra.
Như vậy nội hàm khái niệm quản lý được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý: Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp trên. Còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động. Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh,. Quản lý nhà nước Để nghiên cứu các khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm quản lý.
Thuật ngữ quản lý thường được hiểu theo những cách khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nõ phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Theo quan niệm của Cac Mac: Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ 11 sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó.
Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng [1, tr. - Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN [19, tr. - Như vậy: Quản lý nhà nước theo chúng tôi được hiểu là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt, quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp [30, tr. - Quản lý nhà nước đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng 12 quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật. Quản lý nhà nước về văn hóa Văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực, mục tiêu của CNXH.
Việc quản lý Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhằm bảo tồn, kế thừa, phát triển những giá trị văn hóa dân tộc là quốc sách hàng đầu được ghi nhận trong các bản hiến pháp. Một trong lĩnh vực hoạt động phổ biến trong đời sống văn hóa xã hội ở nước ta, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư tưởng,tình cảm, nhận thức của nhiều người, đó là hoạt nghệ thuật biểu diễn. Sự tác động của khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, của quá trình giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế đã đưa nghệ thuật biểu diễn không chỉ trở thành sản phẩm tinh thần đáp ứng nhu cầu của quần chúng mà còn trở thành một bộ phận của kinh tế thị trường phát triển năng động, sáng tạo. Phát triển nghệ thuật biểu diễn đi đúng hướng dân tộc, khoa học, đại chúng, chắc chắn không thể thiếu vai trò then chốt của Quản lý nhà nước [48].
Trong:tài liệu lịch sử Việt Nam của nhiều tác giả định nghĩa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [22, tr. Tóm lại, theo chúng tôi hiểu: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động và sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, truyền 13 thống, thị hiếu, những đặc tính riêng của từng dân tộc. Vì vậy, quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa.Trong xã hội hiện đại được hiểu là công việc của nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước.
Nhìn vào thực tiễn không khó để nhận thấy Quản lý văn hóa còn là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý đối với khách thể nhằm đạt được mục tiêu như mong muốn. Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật “Biểu diễn nghệ thuật là những hình thức nghệ thuật khác với nghệ thuật tạo hình. Nghệ thuật biểu diễn sử dụng cơ thể, tiếng nói và sự có mặt của chính nghệ sĩ làm phương tiện trình diễn trước công chúng” [15, tr. “Chèo là một loại kịch hát múa dân gian, kể chuyện, diễn bằng hình thức sân khấu và trước kia được diễn ở sân đình.
Chèo nảy sinh và được phổ biến rộng rãi ở Bắc Bộ” [16, tr. “Quản lý hoạt động biểu diễn là cả một nghệ thuật, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa, sao cho vừa mềm dẻo nhưng vẫn đủ sức răn đe, giáo dục nhẹ nhàng nhưng quyết liệt” [15, tr. Quản lý nhà nước đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật: “Là tổng lực của nhà nước trong các phạm vi, nhằm tác động phù hợp với quy luật phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn trong những nhiệm vụ, mục đích cụ thể” [32, tr. Nội dung quản lý hoạt động biểu diễn Xây dựng một cơ chế, chính sách, chế tài ổn định, phù hợp với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật.
Định hướng giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật 14 cho công chúng xuất phát từ mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tinh thần cũng như hình thành nhu cầu tinh thần của khán giả. Mở rộng giao lưu quốc tế về văn hóa, chống sự xâm nhập của các loại văn hóa phẩm độc hại, lai căng. Lập kế hoạch, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động theo một quy trình thống nhất nhằm đạt mục tiêu phát triển nghệ thuật biểu diễn. Phát huy tính năng động chủ động, tạo điều kiện và thúc đẩy năng lực sáng tạo của nghệ sĩ.
Phát huy mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn.