Tổng quan về luận án
Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Huyền với đề tài "Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan" (chuyên ngành Quản lý văn hóa / Văn hóa học, độ dài 247 trang) là một công trình tiên phong tiếp cận quá trình chuyển hóa thực hành tín ngưỡng dân gian thành di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) đại diện của nhân loại. Trong bối cảnh học thuật quốc tế và Việt Nam đương đại, việc quản lý các di sản "có danh hiệu" sau khi được UNESCO ghi danh thường rơi vào tình trạng phân cực gay gắt giữa bảo tồn nguyên trạng và khai thác thương mại hóa, hành chính hóa, sân khấu hóa. Tính tiên phong của luận án thể hiện ở việc chuyển dịch trọng tâm từ nhận diện giá trị tĩnh sang phân tích động thái "di sản hóa" (heritagization) như một chuỗi thực hành xã hội - chính trị với sự tương tác phức hợp giữa các chủ thể.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được xác định rõ nét: trong khi phần lớn 703 công trình nghiên cứu về Hùng Vương tính đến năm 2012 (tiêu biểu như chuỗi hội thảo Hùng Vương dựng nước 1968–1971, các khảo cứu của Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê) tập trung vào lịch sử, khảo cổ học hoặc giá trị văn hóa dân gian thuần túy; và các nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Hạnh (2003), Trần Thị Tuyết Mai (2013), Nguyễn Đắc Thủy (2018) tiếp cận lễ hội Đền Hùng dưới góc độ lịch sử và quản lý nhà nước đơn tuyến; thì chưa có công trình nào giải mã toàn diện cơ chế vận động của di sản thông qua lăng kính Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory). Luận án giải quyết khoảng trống này thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết cụ thể:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có quá trình di sản hóa như thế nào? — Giả thuyết 1: Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một diễn trình lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ, gắn liền với sự kiến tạo các hệ giá trị biểu tượng mang tính tích hợp cao của cộng đồng quốc gia - dân tộc.
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Vai trò của các bên liên quan vận động ra sao trong quá trình di sản hóa? — Giả thuyết 2: Vai trò, quyền lực và sự tham gia của các bên biến đổi theo sự chuyển dịch về giá trị, lợi ích kinh tế - chính trị và trách nhiệm xã hội qua từng giai đoạn lịch sử.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Mô hình và giải pháp nào bảo đảm sự bảo vệ, phát huy bền vững di sản trong giai đoạn hiện nay? — Giả thuyết 3: Mô hình quản lý tham gia (Participatory Management Model) hướng tới việc hài hòa hóa xung đột lợi ích và tối ưu hóa năng lực của các bên là lựa chọn tối ưu.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984; Donaldson & Preston, 1995; Mitchell, Agle & Wood, 1997) và Lý thuyết di sản hóa (Robert Hewison, 1987; Tunbridge & Ashworth, 1996; Oscar Salemink, 2013). Đóng góp đột phá của luận án nằm ở việc lượng hóa và hệ thống hóa sự dịch chuyển cấu trúc quản lý từ mô hình hành chính mệnh lệnh sang quản trị hợp tác đa bên, được kiểm chứng qua 3 dự án thử nghiệm thực tế (số hóa thông tin di sản, thiết kế sản phẩm lưu niệm đặc trưng, giáo dục trải nghiệm di sản học đường). Phạm vi khảo cứu trải rộng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ với 3 nhóm di tích điển hình (Khu di tích Đền Hùng và vùng ven, 3 di tích cấp quốc gia, 2 di tích cấp tỉnh) cùng các điểm đối sánh tại miền Nam (Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh, Đắk Lắk) và cộng đồng hải ngoại, sử dụng dữ liệu điền dã dân tộc học thực hiện liên tục từ năm 2015 đến năm 2022.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu cho thấy hai dòng nghiên cứu học thuật chủ đạo:
Dòng nghiên cứu 1: Bản thể luận và giá trị của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Các học giả tiền bối đã khẳng định tính độc bản tuyệt đối của tín ngưỡng. Cố Giáo sư Hà Văn Tấn từng đúc kết: "Không ở đâu trên trái đất này, có một dân tộc tin rằng có một mộ tổ chung, một ngôi đền tổ chung, để một ngày trong năm, hành hương về tưởng niệm như trường hợp Việt Nam". Đồng thuận với nhận định này, Giáo sư Đinh Gia Khánh khẳng định trong Địa chí Vĩnh Phú: "Cả nước làm giỗ Tổ! Đối với chúng ta thì đó dường như là một điều tự nhiên, một điều bình thường. Nhưng xét cho kỹ thì điều đó không bình thường một chút nào cả. Trái lại, đó là một trong những nét độc đáo, rất độc đáo trong văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam". Đặc biệt, Giáo sư Phan Huy Lê (1985, 2015) đã xác lập nền tảng bản thể xã hội học khi chứng minh sự hình thành nhà nước sơ khai thời Hùng Vương "đã đặt cơ sở cho sự ra đời của một loại hình cộng đồng người mới: cộng đồng quốc gia - dân tộc".
Dòng nghiên cứu 2: Di sản hóa và các cuộc tranh luận về quyền lực quản lý di sản. Trường phái phê phán quốc tế, đại diện tiêu biểu là Oscar Salemink (2013, 2019), kịch liệt chỉ trích các động thái vinh danh của UNESCO tại Việt Nam là "con đường trơn trượt", "con dao hai lưỡi" và là quá trình "chiếm đoạt văn hóa" (appropriating culture), biến thực hành của cộng đồng thành "tài sản văn hóa của nhà nước" nhằm phục vụ mục tiêu chính trị hóa, hoành tráng hóa và thương mại hóa. Quan điểm này được chia sẻ bởi nhiều nhà nghiên cứu trong nước khi phân tích hiện tượng "ngoài lề hóa" cộng đồng tại Hội Gióng (Nguyễn Thị Hiền, 2012), Làng cổ Đường Lâm (Lê Thị Ngà, 2015), hay Quan họ Bắc Ninh (Trần Minh Chính, 2016). Ngược lại, trường phái kiến tạo - thể chế (Nguyễn Chí Bền, 2014; Lương Hồng Quang, 2014) lập luận rằng trong lịch sử Việt Nam, di sản phi vật thể luôn vận động dưới "hai chiều lực" tương hỗ: sự bảo trợ của nhà nước và sức sống nội sinh của dân chúng; nhà nước không chiếm đoạt mà đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý và huy động nguồn lực quốc gia.
Vị thế học thuật của luận án xác lập điểm đột phá khi bác bỏ định kiến nhị nguyên (Nhà nước đối đầu Cộng đồng) của trường phái phê phán phương Tây. Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với một di sản có chủ thể là "cộng đồng quốc gia - dân tộc", sự tham gia của nhà nước không đơn thuần là "chiếm đoạt" mà là một tiến trình lịch sử tự nhiên nhằm tích hợp biểu tượng đoàn kết dân tộc.
Luận án so sánh trực tiếp với 2 nghiên cứu quốc tế điển hình:
- Nghiên cứu của Aas, Ladkin và Fletcher (2005) tại Luang Prabang (Lào) về mô hình hợp tác các bên liên quan do UNESCO thí điểm, luận án kế thừa phương pháp phân tích mức độ cộng tác nhưng mở rộng sang không gian di sản phi vật thể có chiều sâu nghi lễ tâm linh thay vì chỉ giới hạn ở cảnh quan kiến trúc đô thị.
- Nghiên cứu của Awoke Amzaye Assoma (2010) về cảnh quan văn hóa Konso (Ethiopia), phân tích xung đột quyền lực 3 cấp độ (địa phương - quốc gia - quốc tế). Luận án phát triển sâu hơn mô hình của Assoma bằng cách bổ sung vai trò của khối doanh nghiệp du lịch, giới học giả nghiên cứu và cộng đồng mở rộng (du khách hành hương, người Việt định cư ở nước ngoài theo nghiên cứu của Karen Fjelstad, 2012 tại San Jose, Hoa Kỳ).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984) từ phạm trù quản trị kinh doanh doanh nghiệp sang lĩnh vực quản trị DSVHPVT tại các quốc gia đang phát triển. Công trình áp dụng chuẩn xác 3 thuộc tính lý thuyết theo Donaldson & Preston (1995):
- Mô tả quan sát (Descriptive): Tái hiện bức tranh tương tác đa chiều, sự phân hóa nội bộ giữa các nhóm bên liên quan (cán bộ chính quyền cấp tỉnh vs cấp xã, cộng đồng làng gốc Đền Hùng vs cộng đồng vùng ven, doanh nghiệp du lịch vs người dân kinh doanh nhỏ lẻ).
- Phương tiện thực thi (Instrumental): Thiết lập mối liên hệ giữa việc đáp ứng kỳ vọng của các bên với sự bền vững của không gian thực hành tín ngưỡng.
- Chuẩn tắc (Normative): Khẳng định nguyên tắc đạo đức trong bảo vệ di sản theo Công ước 2003 của UNESCO, bảo đảm quyền tiếp cận, thực hành và chia sẻ lợi ích công bằng cho cộng đồng chủ thể.
Hệ thống mệnh đề lý thuyết được xây dựng gồm:
- Mệnh đề 1: Mức độ di sản hóa tỷ lệ thuận với số lượng và tính phức tạp của các nhóm bên liên quan tham gia vào không gian di sản.
- Mệnh đề 2: Sự xung đột về lợi ích kinh tế và tính thiêng liêng hóa di sản chỉ có thể được giải tỏa khi thiết lập được cơ chế đồng quản trị (co-governance) và phân bổ minh bạch nguồn lực xã hội hóa.
- Mệnh đề 3: Chủ thể của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương mang tính đa tầng (làng xã bản địa – nhân dân cả nước – kiều bào hải ngoại), đòi hỏi một khung quản trị thích ứng đa cấp độ.
Sự chuyển dịch hệ hình (paradigm shift) mà luận án chứng minh là: Di sản hóa không phải là một "nhãn dán tĩnh" mang tính chiếm đoạt quyền lực, mà là một "thực hành xã hội liên tục" của quá trình đàm phán, tái tạo biểu tượng và cộng tác nguồn lực giữa Nhà nước, Cộng đồng và Thị trường.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết di sản hóa, Lý thuyết các bên liên quan và Lý thuyết quản lý tham gia. Quy trình phân tích vận hành qua 3 bước logic chặt chẽ:
- Bước 1 (Tiếp cận lịch đại): Phân tích diễn trình di sản hóa qua 3 phân đoạn lịch sử trọng yếu để xác định sự biến đổi hệ giá trị biểu tượng và mục tiêu chính trị - xã hội của di sản.
- Bước 2 (Tiếp cận đồng đại): Nhận diện, phân loại và đánh giá ma trận vai trò, quyền lực, kỳ vọng và mức độ ảnh hưởng của 4 nhóm bên liên quan chính (Nhà nước, Cộng đồng, Nhà khoa học, Doanh nghiệp/Truyền thông).
- Bước 3 (Thực hành ứng dụng): Thiết lập mô hình quản lý tham gia (Sơ đồ 4.1, Sơ đồ 4.2), phân định rõ cơ chế phân vai, phân quyền và thử nghiệm các giải pháp can thiệp thực tế.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: Khung lý thuyết này áp dụng tối ưu cho các DSVHPVT có tính chất biểu tượng quốc gia, có sự đan xen sâu sắc giữa yếu tố vật thể (quần thể di tích) và phi vật thể (nghi lễ, hội hè), và chịu áp lực mạnh mẽ từ các hoạt động dịch vụ du lịch đại chúng.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng lập trường triết học nhận thức luận Hiện thực phản tư (Critical Realism) kết hợp Hiện tượng luận diễn giải (Interpretivism). Thiết kế nghiên cứu định tính liên ngành chuyên sâu (văn hóa học, dân tộc học, xã hội học và khoa học quản lý) được triển khai nhằm nắm bắt các cấu trúc quyền lực ẩn sâu và ý nghĩa biểu tượng của thực hành tín ngưỡng.
Quy mô và tiêu chí chọn mẫu khảo sát thực địa được phân tầng nghiêm ngặt thành 3 nhóm địa bàn đại diện:
- Nhóm 1 (Trung tâm lõi và vùng phụ cận Đền Hùng): Khu di tích lịch sử Đền Hùng (xã Hy Cương, TP. Việt Trì); 3 làng cổ gắn liền với không gian thực hành gốc gồm Làng Vi, Làng Trẹo (thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao), Làng Cổ Tích (xã Hy Cương); và Đình Cả với lễ hội Rước vua về làng vui xuân (xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao).
- Nhóm 2 (Di tích cấp quốc gia thờ Hùng Vương): Đình Đào Xá, Đền Lăng Sương (huyện Thanh Thủy); Đình Hùng Lô (TP. Việt Trì) – đại diện cho sự tự quản cộng đồng và khả năng thích ứng du lịch.
- Nhóm 3 (Di tích cấp tỉnh): Đền Thượng (xã Ninh Dân, huyện Thanh Ba) và Đền Quốc Tế (xã Thọ Văn, huyện Tam Nông) – phản ánh rõ nét sự phân hóa giữa cơ sở có sự chuyển biến tích cực và cơ sở còn hạn chế nguồn lực sau khi UNESCO ghi danh.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực điền dã dân tộc học:
- Quan sát tham dự (Participant observation): Tiến hành trong giai đoạn 2015–2021, tập trung vào hai thời điểm tương phản: chính hội Giỗ Tổ (tháng 3 âm lịch) với mật độ du khách đậm đặc và các ngày thường/dịp Tết Nguyên đán để đánh giá đời sống tâm linh thường nhật của cư dân bản địa.
- Phỏng vấn sâu (In-depth interviews): Thiết kế bán cấu trúc với hệ thống câu hỏi mở linh hoạt, chia thành 3 nhóm đối tượng khảo sát: (1) Nhóm quản lý nhà nước (cán bộ Sở VH-TT&DL, Ban quản lý Đền Hùng, lãnh đạo UBND huyện/xã); (2) Nhóm chuyên gia/nhà nghiên cứu (lịch sử, văn hóa dân gian, Hán Nôm); (3) Nhóm cộng đồng và các bên liên quan khác (chủ tế, thủ từ, nghệ nhân dân gian, người dân địa phương, du khách trẩy hội, doanh nghiệp lữ hành, tiểu thương).
Kỹ thuật kiểm tra chéo tam giác đạc (Triangulation) được áp dụng toàn diện:
- Tam giác đạc dữ liệu: Kết hợp văn bản Hán Nôm cổ (Hùng Vương ngọc phả năm 1472), hồ sơ đệ trình UNESCO (2012), văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và dữ liệu phỏng vấn thực địa.
- Tam giác đạc phương pháp: Đối chiếu kết quả phỏng vấn sâu với ghi chép quan sát tham dự và dữ liệu thống kê khách du lịch, số liệu giải ngân vốn xã hội hóa tu bổ di tích.
- Độ tin cậy và tính hợp thức (Validity & Reliability): Dữ liệu được mã hóa, đối sánh độc lập giữa các nhóm phỏng vấn có xung đột lợi ích nhằm triệt tiêu thiên kiến chủ quan của nhà nghiên cứu.
Data và phân tích
Dữ liệu định tính được phân tích theo phương pháp logic - lịch sử và mô hình hóa hệ thống. Luận án tích hợp các bảng thống kê thực chứng có giá trị khoa học cao:
- Bảng 2.1: Thống kê số lượng di tích thờ cúng Hùng Vương và danh tướng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Bảng 2.2: Danh mục các dự án tu bổ, tôn tạo tại Khu di tích Đền Hùng được đầu tư từ nguồn công đức và xã hội hóa hàng trăm tỷ đồng.
- Bảng 3.1 & Bảng 3.2: Số liệu biến động khách du lịch đến Đền Hùng giai đoạn tiền ghi danh 2005–2011 (tăng từ 3,2 triệu lên 5,5 triệu lượt) và giai đoạn hậu ghi danh 2011–2019 (đạt đỉnh gần 8 triệu lượt khách/mùa lễ hội).
- Bảng 4.1: Ma trận kỳ vọng và vai trò tham gia của các bên liên quan giai đoạn 2012 đến nay.
- Bảng 4.2 & Bảng 4.3: Dữ liệu đánh giá định lượng mức độ hài lòng và sự đóng góp nguồn lực của các bên tham gia trong các dự án thử nghiệm sản phẩm lưu niệm và du lịch học đường.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Xác lập 3 phân kỳ lịch sử của diễn trình di sản hóa:
- Giai đoạn 1 (1472 – 1945): Di sản hóa dưới sự chuẩn hóa của nhà nước quân chủ phong kiến thông qua việc biên soạn Hùng Vương ngọc phả (Lê Thánh Tông, 1472), cấp sắc phong, ban cấp ruộng tế tự (thổ tri) cho dân sở tại làm nhiệm vụ "trưởng tạo lệ", xác lập vị thế Đền Hùng là nơi quốc tế định kỳ.
- Giai đoạn 2 (1945 – 2012): Di sản hóa gắn liền với quá trình kiến tạo bản sắc quốc gia - dân tộc hiện đại và biểu tượng đoàn kết chống ngoại xâm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa / CHXHCN Việt Nam; đỉnh cao là chuỗi hội thảo quốc gia 1968–1971, sự kiện công nhận Di tích quốc gia đặc biệt (2009) và hồ sơ đệ trình UNESCO.
- Giai đoạn 3 (2012 – nay): Di sản hóa toàn cầu hóa hậu UNESCO ghi danh, chứng kiến sự bùng nổ của du lịch tâm linh, sự đa dạng hóa vượt bậc của các nhóm lợi ích và sự mở rộng không gian tín ngưỡng ra kiều bào quốc tế.
-
Giải mã sự chuyển dịch vai trò và xung đột lợi ích giữa các bên liên quan:
Nghiên cứu phát hiện ra sự dịch chuyển quyền lực: trước năm 2012, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo định hình khung bảo tồn; sau năm 2012, cộng đồng địa phương có xu hướng đòi lại không gian thực hành tự quản, trong khi doanh nghiệp và du khách trở thành động lực kinh tế mới chi phối không gian dịch vụ di sản.
-
Bác bỏ luận điểm "cộng đồng bị tước đoạt hoàn toàn":
Trái ngược với nhận định bi quan của Salemink (2013), dữ liệu điền dã chứng minh cộng đồng bản địa tại Phú Thọ (như Làng Cổ Tích, Hùng Lô, Đào Xá) không hoàn toàn bị động hay bị gạt ra ngoài lề. Họ đã chủ động tái thương lượng quyền lực, tận dụng "danh hiệu UNESCO" như một nguồn vốn biểu tượng (symbolic capital) để phát triển kinh tế du lịch cộng đồng, khôi phục các nghi thức tế lễ cổ truyền và huy động nguồn lực xã hội hóa hàng chục tỷ đồng để tu bổ cơ sở thờ tự địa phương (Bảng 2.2).
-
Thực chứng hiệu quả của Mô hình quản lý tham gia qua 3 dự án can thiệp:
- Dự án 1: Hệ thống hóa và số hóa thông tin di sản dựa trên công nghệ, giúp cộng đồng và du khách tiếp cận tri thức chuẩn xác.
- Dự án 2: Sáng tạo sản phẩm lưu niệm đặc trưng văn hóa thời đại Hùng Vương (Bảng 4.2), huy động thành công sự phối hợp giữa nghệ nhân bản địa, nhà thiết kế và doanh nghiệp lữ hành.
- Dự án 3: Xây dựng chương trình giáo dục trải nghiệm di sản học đường (Bảng 4.3), đạt tỷ lệ đánh giá xuất sắc từ nhà trường và học sinh, nâng cao ý thức trao truyền di sản thế hệ trẻ.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung vào kho tàng lý luận quản lý văn hóa một cách tiếp cận dung hợp: xem xét di sản phi vật thể như một hệ sinh thái sống, nơi các bên liên quan vừa hợp tác vừa cạnh tranh để cùng kiến tạo giá trị (value co-creation).
- Về phương pháp luận: Cung cấp quy trình nghiên cứu mẫu kết hợp chặt chẽ giữa điền dã dân tộc học định tính với phương pháp mô hình hóa quản lý tham gia và thử nghiệm ứng dụng thực tế.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Đề xuất lộ trình chuyển đổi từ quản lý hành chính tập trung sang quản trị phi tập trung (decentralized governance), trao quyền tự chủ tổ chức nghi lễ cho cộng đồng làng xã vùng ven Đền Hùng; minh bạch hóa nguồn thu công đức; chuẩn hóa bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp du lịch tại không gian di tích.
- Khả năng khái quát hóa (Generalizability): Mô hình quản lý tham gia của luận án hoàn toàn có khả năng chuyển giao và áp dụng hiệu quả cho các DSVHPVT khác của Việt Nam đã được UNESCO vinh danh như Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hội Gióng, Thực hành Then, Nghệ thuật Xòe Thái.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về không gian và dữ liệu thực địa: Dù đã mở rộng khảo sát một số điểm tại miền Nam và trích dẫn trường hợp kiều bào San Jose (Hoa Kỳ), trọng tâm dữ liệu sơ cấp vẫn chủ yếu tập trung tại địa bàn tỉnh Phú Thọ; chưa thể bao quát toàn bộ hơn 1.400 di tích thờ Hùng Vương trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Giới hạn về phương pháp định lượng: Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và thống kê mô tả; chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) để đo lường định lượng chính xác trọng số ảnh hưởng của từng bên liên quan đến hiệu quả quản trị di sản.
- Độ trễ thời gian do đại dịch: Quá trình điền dã giai đoạn 2020–2021 bị gián đoạn cục bộ bởi các biện pháp giãn cách xã hội phòng chống dịch COVID-19, ảnh hưởng đến việc quan sát các nghi lễ quy mô lớn.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) gợi mở 4 định hướng:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa tín ngưỡng thờ Quốc Tổ của Việt Nam với các thực hành sùng bái tổ tiên mang tính biểu tượng dân tộc tại Đông Á (như lễ tế Hoàng Đế ở Trung Quốc, Lễ tế Đàn Quân ở Hàn Quốc).
- Nghiên cứu sâu hơn về quá trình "di sản hóa số" (digital heritagization), metaverse và công nghệ thực tế ảo tác động đến nhận thức tính thiêng của thế hệ trẻ.
- Đo lường tác động kinh tế di sản bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) đối với nguồn thu từ du lịch tâm linh.
- Đánh giá sự biến đổi bản sắc văn hóa của cộng đồng người Việt hải ngoại thông qua mạng lưới Đền thờ Hùng Vương toàn cầu.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Dự kiến tạo lập nguồn trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Nhân học văn hóa và Du lịch học tại Việt Nam; trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực trong các chương trình đào tạo sau đại học.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp văn hóa và du lịch: Cung cấp khung định hướng để các doanh nghiệp lữ hành và cơ quan du lịch Phú Thọ thiết kế chuỗi sản phẩm du lịch di sản bền vững, khắc phục tính mùa vụ "tháng Ba giỗ Tổ", gia tăng giá trị kinh tế cho chuỗi cung ứng địa phương.
- Ảnh hưởng chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa và UBND tỉnh Phú Thọ trong việc sửa đổi Luật Di sản văn hóa, hoàn thiện Chương trình hành động quốc gia bảo vệ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cam kết với UNESCO.
- Lợi ích xã hội: Thúc đẩy trao quyền thực chất cho cộng đồng địa phương, bảo tồn tính thiêng và không gian văn hóa nguyên bản, hạn chế các biểu hiện tiêu cực của thương mại hóa và mê tín dị đoan.
- Tầm vóc quốc tế: Khẳng định tính đa dạng văn hóa và cam kết thực thi nghiêm túc Công ước 2003 của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế và UNESCO.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một khung lý thuyết và phương pháp luận tiên tiến về quản lý di sản, mở ra các hướng đề tài mới về sự tương tác giữa nhà nước, thị trường và cộng đồng.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu cao cấp: Kế thừa hệ thống dữ liệu điền dã công phu, các tài liệu đối sánh quốc tế và hệ thống sơ đồ, mô hình hóa sắc bén.
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý văn hóa: Nắm vững cơ sở thực tiễn để ban hành các quy định quản lý điểm đến, cơ chế chia sẻ nguồn thu công đức và quy chế phối hợp đa ngành.
- Doanh nghiệp du lịch và cộng đồng bản địa: Tiếp thu các giải pháp ứng dụng thiết thực về phát triển sản phẩm lưu niệm đặc trưng, các tour du lịch trải nghiệm học đường, nâng cao sinh kế bền vững song hành với bảo tồn di sản.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc chuyển hóa thành công Lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984) để xây dựng Khung phân tích di sản hóa đa bên dành riêng cho loại hình DSVHPVT có tính chất biểu tượng quốc gia. Nghiên cứu đã chứng minh rằng trong một di sản đặc thù như Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, "chủ thể cộng đồng" không đồng nhất mà phân tầng sâu sắc, và "nhà nước" không phải là thế lực chiếm đoạt ngoại lai mà chính là một bên liên quan mang tính bản thể, đóng vai trò hợp thức hóa và mở rộng biểu tượng đoàn kết dân tộc.
2. Đổi mới phương pháp luận thể hiện qua việc so sánh với các nghiên cứu đi trước ra sao?
Trả lời: So với các nghiên cứu trước đây vốn thuần túy khảo cứu lịch sử văn bản (Nguyễn Khắc Xương, Lê Văn Lan) hoặc quan sát mô tả lễ hội đơn tuyến (Trần Thị Tuyết Mai, 2013), luận án kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học dài hạn (2015–2022) với phương pháp mô hình hóa hệ thống và triển khai thử nghiệm thực địa 3 dự án can thiệp. Quy trình này khắc phục triệt để tính lý thuyết suông, mang lại bằng chứng khoa học có khả năng kiểm chứng và tái lặp.
3. Phát hiện bất ngờ nhất với bằng chứng thực chứng là gì?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là sự thích ứng linh hoạt và khả năng chủ động "tái chiếm lĩnh di sản" của cộng đồng địa phương. Thay vì bị triệt tiêu vai trò bởi sự can thiệp của chính quyền như cảnh báo của trường phái phê phán phương Tây, các làng cổ quanh Đền Hùng (như Làng Cổ Tích, Hùng Lô) đã sử dụng chính "danh hiệu UNESCO" như một công cụ pháp lý và kinh tế để đàm phán lại không gian sinh hoạt tâm linh, gia tăng quyền tự chủ và thu hút nguồn lực xã hội hóa hàng chục tỷ đồng để phục dựng các nghi lễ cổ truyền (Bảng 2.2, Bảng 4.1).
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp nghiên cứu (replication protocol) không?
Trả lời: Có. Toàn bộ quy trình chọn mẫu phân tầng 3 nhóm địa bàn, bộ công cụ phỏng vấn sâu bán cấu trúc cho 3 nhóm chủ thể (Phụ lục 1), tiêu chí phân loại ma trận các bên liên quan và quy trình 3 bước thử nghiệm mô hình quản lý tham gia đều được trình bày chi tiết, minh bạch trong luận án, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng chính xác quy trình này trên các di sản phi vật thể tương đồng.
5. Luận án có phác thảo chương trình nghiên cứu 10 năm tới không?
Trả lời: Có. Luận án đã vạch rõ tầm nhìn nghiên cứu đến năm 2030 định hướng ngành Văn hóa, tập trung vào 3 trục chính: hoàn thiện thể chế đồng quản trị di sản phi vật thể tại Việt Nam; phát triển công nghiệp văn hóa gắn với công nghệ số hóa di sản; và xây dựng mạng lưới nghiên cứu quốc tế so sánh các thực hành tín ngưỡng thờ Quốc Tổ vùng Đông Á.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ diễn trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trải qua 3 giai đoạn lịch sử bản lề (1472–1945, 1945–2012, 2012 đến nay), chứng minh đây là một quá trình liên tục kiến tạo và tái tạo biểu tượng văn hóa cội nguồn của dân tộc Việt Nam.
- Ứng dụng thành công và phát triển Lý thuyết các bên liên quan vào quản lý di sản văn hóa phi vật thể, phân tích sắc sảo ma trận quyền lực, lợi ích và trách nhiệm của 4 nhóm chủ thể chính: Nhà nước, Cộng đồng, Nhà khoa học và Doanh nghiệp/Truyền thông.
- Bác bỏ định kiến nhị nguyên về sự đối đầu tuyệt đối giữa Nhà nước và Cộng đồng trong quá trình di sản hóa, khẳng định tính tất yếu của sự hợp tác đa bên đối với di sản có quy mô cộng đồng quốc gia - dân tộc.
- Đề xuất và thử nghiệm thành công Mô hình quản lý tham gia với các giải pháp mang tính đột phá: số hóa thông tin di sản, đặc trưng hóa sản phẩm lưu niệm thời đại Hùng Vương và phát triển sản phẩm giáo dục trải nghiệm di sản học đường.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới về quản trị di sản văn hóa thích ứng, số hóa thực hành tín ngưỡng và ngoại giao văn hóa quốc tế, để lại di sản khoa học vững chắc cả về mặt lý luận nhận thức lẫn thực tiễn quản lý văn hóa đương đại.