Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/6/2001 đã tạo lập hành lang pháp lý đầu tiên cho sự ra đời của loại hình bảo tàng tư nhân. Đến năm 2009, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa đã chính thức thay thế thuật ngữ "bảo tàng tư nhân" bằng "bảo tàng ngoài công lập" (Điều 50, mục 1.c). Tính đến tháng 3 năm 2021, cả nước đã có 54 bảo tàng ngoài công lập được cấp quyết định thành lập. Sự xuất hiện của hệ thống này phản ánh chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc và giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ công chúng.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các bảo tàng ngoài công lập đang đối mặt với nhiều bất cập trong công tác quản lý:

  • Đội ngũ nhân lực thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ bảo tàng học; phần lớn chủ sở hữu xuất thân từ doanh nhân, cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, thành lập bảo tàng dựa trên bộ sưu tập hiện vật cá nhân mà chưa qua đào tạo chuyên ngành.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng chung cho cả hai khối công lập và ngoài công lập bộc lộ nhiều điểm không phù hợp; văn bản hướng dẫn riêng cho bảo tàng ngoài công lập đã hết hiệu lực nhưng chưa có văn bản mới thay thế.
  • Chính sách ưu đãi về đất đai, thuế và cơ chế liên kết với các đoàn thể chính trị - xã hội tại các địa phương còn thiếu thống nhất và chưa đồng bộ.
  • Áp lực tài chính rất lớn do bảo tàng chủ yếu tự túc kinh phí, việc tiếp cận các quỹ văn hóa hoặc nguồn tài trợ doanh nghiệp còn nhiều rào cản, dẫn đến tình trạng một số bảo tàng hoạt động kém hiệu quả hoặc phải đóng cửa.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận bảo tàng ngoài công lập dưới góc độ bảo tàng học thuần túy (khảo sát hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trưng bày, sưu tầm). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc và toàn diện về thực trạng tổ chức và quản lý bảo tàng ngoài công lập dưới góc độ khoa học Quản lý văn hóa để làm cơ sở đề xuất chính sách, cơ chế quản lý phù hợp từ phía nhà nước và chủ sở hữu.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng quản lý các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những mặt ưu điểm, hạn chế trong quản lý từ phía cơ quan quản lý nhà nước và chủ sở hữu bảo tàng; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các bảo tàng ngoài công lập trong thời gian tới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tập hợp, phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan để kế thừa và xác định khung lý thuyết cho đề tài.
    2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý bảo tàng ngoài công lập.
    3. Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý các bảo tàng ngoài công lập trên hai phương diện: quản lý nhà nước và quản trị của chủ sở hữu.
    4. Chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý của các chủ thể.
    5. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Sự khác nhau giữa bảo tàng công lập và bảo tàng ngoài công lập từ đặc điểm và công tác quản lý?
    2. Trong công tác quản lý bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam hiện nay có vấn đề gì cần quan tâm?
    3. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo tàng ngoài công lập cần có những giải pháp gì?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Bảo tàng ngoài công lập do các cá nhân, doanh nghiệp, dòng họ hoặc nhóm người cùng sở thích tự bỏ vốn thành lập và điều hành nên công tác quản lý có sự khác biệt rõ rệt so với bảo tàng công lập. Trên cơ sở đặc thù về mô hình sở hữu, tài chính và nhân lực, việc nâng cao hiệu quả hoạt động đòi hỏi phải có những định hướng và giải pháp quản lý đặc thù, đồng bộ từ cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn chủ sở hữu bảo tàng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam. Trong đó, luận án đi sâu khảo sát 04 trường hợp điển hình: Bảo tàng Cổ vật Hoàng Long (Thanh Hóa), Bảo tàng Không gian văn hóa Mường (Hòa Bình), Bảo tàng Đồng Quê (Nam Định) và Bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt và tù đày (Hà Nội), kết hợp dẫn liệu từ các bảo tàng khác khi cần chứng minh.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 (thời điểm Luật Di sản văn hóa có hiệu lực thi hành) đến năm 2021.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát 54 bảo tàng ngoài công lập trên phạm vi cả nước. Trong đó, địa bàn nghiên cứu chính gồm 4 tỉnh/thành phố miền Bắc có hệ thống bảo tàng phát triển: Hà Nội, Hòa Bình, Nam Định và Thanh Hóa; địa bàn nghiên cứu phụ trợ để minh họa gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lắk và Thừa Thiên Huế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Các tài liệu quốc tế được luận án tổng thuật tập trung vào các khía cạnh quản lý, phân loại và chiến lược vận hành bảo tàng:

  • Về phân loại và cơ cấu tổ chức: Timothy Ambrose và Cripine Paine trong cuốn "Cơ sở bảo tàng" (Museum basics) (ICOM, dịch năm 2000) đã phân loại bảo tàng theo đối tượng chủ quản, đề cập đến loại hình bảo tàng tư nhân / độc lập (Independent or Private museum), quy định cơ cấu tổ chức và các thủ tục hành chính. Vương Hoằng Quân (chủ biên, "Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc", 1990, dịch 2008) giới thiệu các bảo tàng dân lập tại Trung Quốc như Bảo tàng Nghệ thuật Viêm Hoàng, Bảo tàng Tử Đàn, Bảo tàng Máy tính Thượng Hải. Kaulen M.E (chủ biên, "Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga", 2006) phân tích lịch sử các bộ sưu tập tư nhân từ thời Phục hưng và xu hướng khôi phục bảo tàng tư nhân cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI.
  • Về phương thức điều hành và kinh tế bảo tàng: Barry Lord và Gail Dexter Lord trong "Cẩm nang quản lý bảo tàng" (The Manual of Museum Management) xác định vai trò của giám đốc bảo tàng tư nhân, cơ chế tự chủ tài chính và quản lý nhân sự. Sharon Macdonald ("A Companion to Museum Studies", 2006) so sánh sự khác biệt giữa bảo tàng công và tư tại châu Âu và Mỹ, chỉ ra tác động của quyền sở hữu đến cạnh tranh, trợ cấp công, chính sách ưu đãi thuế và 4 yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu khách tham quan (chất lượng sưu tập, giá vé, triển lãm đặc biệt, dịch vụ phụ trợ). Bruno S. Frey và Stephan Meier (2002) nghiên cứu Bảo tàng Beyeler tại Basel (Thụy Sỹ), đúc kết mô hình kết hợp quản lý công trên cơ sở bộ sưu tập tư nhân.
  • Về chiến lược quản trị và tiếp thị: Richard Sandell và Robert R. Janes ("Management and Marketing", 2007) bàn về đổi mới quản lý và tiếp thị trong bối cảnh mới. Christian Waltl (2006) nhấn mạnh chiến lược phát triển công chúng (audience development). Audrey Gilmore và Ruth Rentschler phân tích sự chuyển dịch từ quản lý lưu giữ truyền thống sang định hướng tiếp thị và dịch vụ khách hàng. Izabela Luiza POP và Anca BORZA (2014) khảo sát việc tăng cường tính bền vững thông qua mô hình quản trị doanh nghiệp tại các bảo tàng Louvre, Guggenheim, Hermitage. Lê Thị Thúy Hoàn (2008, 2016) nghiên cứu hệ thống bảo tàng Nhật Bản và rút ra 6 bài học quản lý bảo tàng tại Queensland (Úc).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về nghiệp vụ bảo tàng ngoài công lập: Trần Đức Nguyên với đề tài NCKH cấp trường (2011) và đề tài cấp Bộ (2014) khảo sát thực trạng hoạt động chuyên môn của 17 bảo tàng ngoài công lập giai đoạn 2006 - 2013, đề xuất giải pháp nghiệp vụ dưới góc độ Bảo tàng học. Phạm Quốc Quân công bố nhiều bài viết trên Tạp chí Di sản văn hóa và các hội thảo (2008, 2011, 2015, 2017) phân tích thực trạng quy chế, tiềm năng phát triển tại Hà Nội và giải pháp cơ chế, chính sách. Hoàng Xuân Chinh (2008) phân tích trường hợp Bảo tàng Cổ vật Hoàng Long; Phạm Thúy Hợp (2009), Đỗ Văn Trụ, Minh Vượng (2015), Phạm Mai Hùng (2016) phản ánh khó khăn, bất cập trong quá trình chuyển mình và vận hành của các bảo tàng ngoài công lập. Nguyễn Văn Huy và Lê Thị Minh Lý (2017) ghi nhận sự đổi mới trưng bày tại các bảo tàng Không gian Mường, Fito, Cội Nguồn, Nguyễn Văn Huyên, Tù đày.
  • Nghiên cứu về quản lý, thể chế và tiếp thị bảo tàng: Lê Thị Minh Lý (2007), G. Brown Goode (2013), Vũ Mạnh Hà (2009) luận giải các nguyên tắc quản lý bảo tàng hiện đại. Nguyễn Thế Hùng (2012) và Nguyễn Hữu Toàn (2013) đánh giá thực thi pháp luật di sản và chỉ ra bất cập trong chính sách bảo tàng. Nguyễn Công Hoan đề xuất mô hình Marketing 4P; Phạm Lan Hương, Nguyễn Thế Hùng và Nguyễn Hải Ninh (2015, 2017) nghiên cứu về xây dựng thương hiệu và ứng dụng mạng xã hội trong truyền thông bảo tàng. Lê Thu Hiền (2016) và Phạm Định Phong (2016) phân tích thực trạng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành bảo tàng.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu đi trước đã phản ánh thực trạng hoạt động nghiệp vụ hoặc những lát cắt riêng lẻ, song chưa có công trình nào giải quyết toàn diện vấn đề tổ chức và quản lý hệ thống bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam dưới góc độ khoa học Quản lý văn hóa. Luận án đi sâu giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích đồng thời cơ chế quản lý nhà nước (từ trung ương đến địa phương) và phương thức quản trị nội bộ của chủ sở hữu, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ, khả thi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cơ bản

Luận án vận dụng các khái niệm và cơ sở lý thuyết cốt lõi trong khoa học Quản lý văn hóa và Bảo tàng học:

  • Khái niệm Bảo tàng: Luận án đối chiếu định nghĩa bảo tàng của Hội đồng Bảo tàng quốc tế (ICOM 1946, 2004), quan niệm của các trường phái bảo tàng học Nga, Anh, Mỹ, Trung Quốc và định nghĩa tại Luật Di sản văn hóa Việt Nam (sửa đổi năm 2009, hợp nhất năm 2013). Luận án xác định bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam là một thiết chế văn hóa thực hiện đầy đủ các chức năng sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giáo dục; tuy nhiên, do đặc thù tự chủ tài chính nên chưa thể hoàn toàn đáp ứng tiêu chí "phi lợi nhuận" và "mở cửa thường xuyên" như các bảo tàng công lập mà phải kết hợp các hoạt động dịch vụ có thu để duy trì vận hành.
  • Khái niệm Bảo tàng ngoài công lập: Phân tích sự chuyển dịch khái niệm từ "Bảo tàng tư nhân" (theo Luật Di sản văn hóa 2001) sang "Bảo tàng ngoài công lập" (Luật sửa đổi năm 2009), làm rõ nội hàm bao quát không chỉ sở hữu của cá nhân mà cả tổ chức, doanh nghiệp, dòng họ.
  • Khái niệm Quản lý văn hóa và Quản lý bảo tàng ngoài công lập: Tiếp cận quản lý như một quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong môi trường kinh tế thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa văn hóa, kết hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thu thập, xử lý và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản nội bộ của bảo tàng, số liệu thứ cấp để xây dựng các luận điểm và thiết kế bảng biểu so sánh.
  • Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Khảo cứu hệ thống tài liệu lý thuyết, hồ sơ thành lập bảo tàng, báo cáo chuyên môn nhằm xác định khung phân tích và phát triển công cụ khảo sát.
  • Phương pháp điền dã thực tế: Khảo sát trực tiếp tại các bảo tàng ngoài công lập trên địa bàn Hà Nội, Hòa Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế để quan sát hoạt động trưng bày, kho bảo quản và cung ứng dịch vụ.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đặc điểm thiết chế và phương thức quản lý giữa bảo tàng công lập và ngoài công lập; so sánh hiệu quả giữa các mô hình bảo tàng ngoài công lập có nguồn thu dịch vụ và bảo tàng thuần túy trưng bày.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn chuyên gia: Xây dựng bảng hỏi và phỏng vấn đại diện cơ quan quản lý nhà nước (Cục Di sản văn hóa, các Sở VHTTDL), chuyên gia bảo tàng học, các chủ sở hữu bảo tàng (ông Lâm Văn Bảng, PGS. Nguyễn Văn Huy...), nhân viên và khách tham quan.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành Quản lý văn hóa với Bảo tàng học, Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học, Kinh tế học văn hóa và Lịch sử.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Biên bản phỏng vấn sâu (TLPV), ghi chép điền dã thực tế tại 04 bảo tàng nghiên cứu điểm và các bảo tàng đối chứng.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Danh mục thống kê 54 bảo tàng ngoài công lập của Cục Di sản văn hóa (tính đến tháng 3/2021); hệ thống Luật Di sản văn hóa và văn bản dưới luật; báo cáo tổng kết ngành văn hóa; tư liệu công bố của các học giả trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam

Chương 1 hoàn thiện cơ sở lý luận, hệ thống hóa lịch sử hình thành và phân tích các đặc trưng cơ bản của hệ thống bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam.

So sánh giữa bảo tàng công lập và bảo tàng ngoài công lập

Luận án xây dựng khung so sánh toàn diện giữa hai loại hình thiết chế và phương thức quản lý tương ứng (Bảng 1.1 và Bảng 1.2 trong văn bản):

Tiêu chí Bảo tàng công lập Bảo tàng ngoài công lập
Quản lý thiết chế Ban Giám đốc và các phòng ban do cơ quan nhà nước quyết định; bộ máy thống nhất, chuẩn hóa theo luật định. Chủ sở hữu trực tiếp làm giám đốc (hoặc thuê); bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt, có thể không có đầy đủ phòng ban.
Chủ thể quản lý Nhà nước (Bộ VHTTDL/Cục Di sản văn hóa, UBND tỉnh/thành phố, Sở VHTTDL). Tư nhân (chủ sở hữu) tự điều hành; đồng thời chịu sự quản lý nhà nước của Sở VHTTDL, UBND và các ngành (Thuế, Công an, PCCC...).
Khách thể quản lý Chính quyền sở tại, đối tác cung ứng dịch vụ, môi trường KT-XH. Tự quản nội bộ, cộng đồng, khách tham quan.
Nguồn nhân lực Viên chức nhà nước, tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Chủ sở hữu, người thân trong gia đình hoặc lao động hợp đồng, thời vụ, tình nguyện viên; cơ cấu lao động linh hoạt.
Cơ sở vật chất Nhà nước đầu tư ngân sách xây dựng, quản lý và cấp kinh phí duy tu. Chủ sở hữu tự bỏ kinh phí xây dựng trên đất cá nhân hoặc đất thuê mượn, hỗ trợ mặt bằng từ địa phương.
Đặc điểm quản lý Quản lý theo ngành dọc, bộ máy hành chính chặt chẽ; thực hiện nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền theo định hướng. Quản lý đơn giản, linh hoạt, ít chịu ràng buộc hành chính; hoạt động nghiên cứu, trưng bày theo ý tưởng của chủ sở hữu.
Chỉ số đánh giá Dựa trên kế hoạch, chỉ tiêu định sẵn; đề cao tính tuân thủ pháp luật và nhiệm vụ chính trị. Dựa vào hiệu quả khai thác, tính bền vững, nguồn thu dịch vụ và khả năng thích ứng thị trường.

Tiến trình hình thành và phát triển

Luận án chia lịch sử phát triển của bảo tàng ngoài công lập thành 2 giai đoạn:

  1. Giai đoạn 2001 - 2009: Sau khi Luật Di sản văn hóa 2001 ban hành, cả nước thành lập được 06 bảo tàng tư nhân. Hoạt động giai đoạn này còn nhiều bỡ ngỡ, một số bảo tàng hoạt động kém hiệu quả đã phải ngừng đón khách (như Bảo tàng Mỹ thuật Họa sĩ Sĩ Tốt và gia đình).
  2. Giai đoạn 2010 - 2021: Sau Luật sửa đổi năm 2009, hệ thống phát triển mạnh với 48 bảo tàng mới được cấp phép, nâng tổng số lên 54 bảo tàng trên toàn quốc.

Phân loại và đặc điểm thực trạng

  • Phân loại theo loại hình (6 nhóm chính): (1) Bảo tàng lưu niệm sự kiện (Bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày, Ký ức chiến tranh Hà Nội, Minh Chuyên...); (2) Bảo tàng lưu niệm danh nhân (Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Tộc, Nguyễn Chí Thanh); (3) Bảo tàng cổ vật (Hoàng Long, Võ Hằng Gia, Tràng An, Vũ khí cổ...); (4) Bảo tàng dân tộc học (Không gian văn hóa Mường, Đồng Quê, Di sản văn hóa Mường, Cội Nguồn Phú Quốc...); (5) Bảo tàng chuyên ngành (Radio, Nhiếp ảnh Lai Xá, Hóa Thạch, Nghệ thuật hồn đất Việt Bát Tràng...); (6) Bảo tàng về di sản văn hóa phi vật thể (Ẩm thực xứ Quảng, Thế giới Cà phê, Nước mắm Làng Chài Xưa, Sâm Ngọc Linh, Áo Dài...).
  • Cơ cấu sở hữu và nghề nghiệp:
    • Hình thức sở hữu: Cá nhân chiếm 59,25% (32 bảo tàng); Tổ chức/doanh nghiệp/dòng họ chiếm 40,74% (22 bảo tàng).
    • Nghề nghiệp chủ sở hữu: Doanh nhân chiếm 54% (29 bảo tàng); Cán bộ, giáo viên chiếm 20% (11 bảo tàng); Họa sĩ, nghệ sĩ, thợ thủ công chiếm 13% (7 bảo tàng); Cựu chiến binh chiếm 4% (2 bảo tàng); Chuyên gia bảo tàng học chiếm 2% (1 bảo tàng duy nhất do PGS. Nguyễn Văn Huy làm chủ); Khác chiếm 7% (4 bảo tàng).
  • Thực trạng nhân lực, tài chính và trưng bày:
    • Nhân lực: Phần lớn bảo tàng không có nhân viên chuyên trách bảo tàng học, vận hành dựa vào thành viên gia đình hoặc lao động hợp đồng kiêm nhiệm.
    • Tài chính: Các đơn vị duy trì tốt đều phát triển dịch vụ phụ trợ (nhà hàng, lưu trú, bán đặc sản, cho thuê không gian sự kiện như Hoàng Long, Không gian Mường, Đồng Quê, Áo Dài, Cội Nguồn Phú Quốc). Một số ít nhận hỗ trợ ngân sách hạn chế (như Bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày được UBND TP. Hà Nội hỗ trợ từ 250 triệu đồng).
    • Trưng bày và kho: Đa số không có kho bảo quản riêng, "phòng trưng bày đồng thời là kho". Phong cách trưng bày chia làm 3 dạng: (1) Có gì bày nấy; (2) Liệt kê hiện vật thiếu diễn giải khoa học; (3) Trưng bày chuyên nghiệp có tư vấn thiết kế (chiếm tỷ lệ rất nhỏ như Fito, Áo Dài, Nguyễn Văn Huyên, Lai Xá).
TỔNG QUAN HỆ THỐNG BẢO TÀNG NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM (54 BẢO TÀNG - THÁNG 3/2021)

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế vận hành thực tế của các chủ thể quản lý và sự phối hợp giữa các bên liên quan:

  • Các chủ thể quản lý:
    • Chủ thể quản lý nhà nước: Thực hiện chức năng quản lý ngành thông qua Bộ VHTTDL (Cục Di sản văn hóa) và UBND các cấp, Sở VHTTDL/Sở VHTT. Luận án chỉ rõ sự phân cấp quản lý còn lúng túng; nhiều cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương chưa chủ động hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ định kỳ cho khối bảo tàng ngoài công lập.
    • Chủ thể quản lý là chủ sở hữu: Phân tích 2 mô hình quản trị phổ biến gồm: (1) Mô hình cá nhân chủ sở hữu kiêm giám đốc bảo tàng; (2) Mô hình tổ chức, nhóm người chung nguyện vọng cùng sở hữu và cử đại diện quản lý. Quyền quyết định tập trung vào chủ sở hữu mang lại tính linh hoạt cao nhưng dễ dẫn đến quyết định mang tính chủ quan về mặt chuyên môn.
  • Cơ chế phối hợp trong quản lý: Đánh giá mối quan hệ phối hợp giữa bảo tàng ngoài công lập với bảo tàng công lập (chủ yếu dựa trên quan hệ cá nhân, chưa thành quy chế bắt buộc), với các cơ quan quản lý liên ngành (Thuế, Tài nguyên & Môi trường, PCCC) và với các công ty lữ hành, trường học.
  • Thực trạng các hoạt động quản lý nghiệp vụ:
    • Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm hiện vật diễn ra sôi nổi nhưng thiếu hồ sơ khoa học chuẩn hóa.
    • Hoạt động bảo quản hiện vật là khâu yếu nhất do thiếu trang thiết bị kiểm soát môi trường và kỹ thuật chuyên sâu.
    • Quản lý truyền thông, tiếp thị và xây dựng thương hiệu chưa được đầu tư bài bản, mới dừng ở mức độ nhỏ lẻ.
  • Nhận xét, đánh giá chung:
    • Ưu điểm: Khẳng định tính năng động, tự chủ, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, bảo tồn được khối lượng di sản vật thể và phi vật thể đa dạng trong nhân dân.
    • Hạn chế và nguyên nhân: Quản lý thiếu tính chuyên nghiệp; chính sách ưu đãi không đồng đều giữa các địa phương; thiếu văn bản quy phạm pháp luật đặc thù thay thế quy chế cũ đã hết hiệu lực; cơ chế hỗ trợ tài chính và chuyên môn nghiệp vụ chưa được thể chế hóa rõ ràng.

Chương 3: Xu hướng phát triển và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng các định hướng dự báo và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý:

  • Dự báo xu hướng phát triển: Số lượng bảo tàng ngoài công lập sẽ tiếp tục gia tăng đến năm 2031; xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kết hợp bảo tồn di sản với phát triển du lịch, kinh tế dịch vụ trải nghiệm; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong trưng bày.
  • Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước: Khẳng định quan điểm nhất quán về xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng thiết chế văn hóa, bảo đảm sự bình đẳng giữa bảo tàng công lập và ngoài công lập theo quy định pháp luật.
  • Hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý:
    1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý: Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật riêng quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của bảo tàng ngoài công lập; cụ thể hóa chính sách ưu đãi về giao đất, thuê đất, miễn giảm thuế; đơn giản hóa thủ tục cấp phép thành lập và xếp hạng bảo tàng.
    2. Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ: Thiết lập cơ chế hỗ trợ nghiệp vụ bắt buộc giữa bảo tàng công lập đầu ngành với bảo tàng ngoài công lập trên cùng địa bàn; tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn định kỳ về kiểm kê, bảo quản khoa học, thiết kế trưng bày và quản lý sưu tập cho chủ sở hữu và nhân viên.
    3. Đa dạng hóa tài chính và đổi mới tiếp thị: Hướng dẫn bảo tàng phát triển các mô hình kinh tế dịch vụ phụ trợ hợp pháp; áp dụng chiến lược Marketing 4P và truyền thông mạng xã hội; tạo điều kiện để bảo tàng tiếp cận các quỹ văn hóa trong và ngoài nước (như Quỹ AFCP).
    4. Xây dựng mạng lưới liên kết và hợp tác: Thành lập Chi hội hoặc Câu lạc bộ Bảo tàng ngoài công lập thuộc Hội Di sản Văn hóa Việt Nam; đẩy mạnh liên kết tour tuyến với ngành du lịch và đưa chương trình giáo dục di sản của bảo tàng vào các trường học.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Tổng kết, bổ sung và làm sáng tỏ khái niệm, nội hàm của thuật ngữ "quản lý bảo tàng ngoài công lập" trong bối cảnh thể chế chính trị và kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
  • Xác lập khung lý thuyết so sánh có hệ thống giữa quản lý bảo tàng công lập và ngoài công lập qua 7 tiêu chí cốt lõi (thiết chế, chủ thể, khách thể, nhân lực, cơ sở vật chất, đặc điểm quản lý, chỉ số đánh giá).
  • Góp phần bổ sung cơ sở học thuật cho chuyên ngành Quản lý văn hóa và Bảo tàng học về quản trị thiết chế văn hóa ngoài công lập.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát và công bố bộ số liệu toàn diện về bức tranh 54 bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam tính đến năm 2021 (phân bố địa lý, cơ cấu sở hữu, phân loại loại hình, thành phần nghề nghiệp của chủ sở hữu).
  • Đánh giá thực trạng quản lý từ cả hai phía: cơ quan quản lý nhà nước và chủ sở hữu bảo tàng, chỉ rõ các điểm nghẽn về thể chế, nhân lực, tài chính và nghiệp vụ bảo quản.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính sách của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa và chính quyền các địa phương trong việc sửa đổi Luật Di sản văn hóa và xây dựng các chính sách ưu đãi đặc thù.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp 4 nhóm đồng bộ, có tính ứng dụng trực tiếp cho các nhà quản lý và chủ sở hữu bảo tàng ngoài công lập nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án tập trung khảo sát 54 bảo tàng ngoài công lập đã có quyết định thành lập chính thức tính đến tháng 3 năm 2021; chưa bao quát hết các sưu tập tư nhân quy mô lớn chưa đăng ký hoặc chưa đủ điều kiện thành lập bảo tàng.
  • Do điều kiện nghiên cứu, địa bàn khảo sát điền dã chuyên sâu tập trung chủ yếu tại 4 tỉnh/thành phố phía Bắc (Hà Nội, Hòa Bình, Nam Định, Thanh Hóa); các khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ chủ yếu mang tính chất khảo sát phụ trợ, dẫn liệu so sánh.
  • Các tư liệu đối sánh kinh nghiệm quốc tế về quản lý bảo tàng tư nhân còn ở mức độ khái quát do tính đặc thù về hệ thống pháp lý và cơ chế sở hữu của Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng khảo sát toàn diện và đánh giá tác động KT-XH của các bảo tàng ngoài công lập tại khu vực phía Nam và Tây Nguyên.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực bảo tồn di sản và vận hành bảo tàng ngoài công lập.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số, kinh tế di sản và xây dựng thương hiệu số cho hệ thống bảo tàng ngoài công lập trong kỷ nguyên công nghiệp 4.0.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và sinh viên: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật trong các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Bảo tàng học, Di sản học, Văn hóa học; cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận liên ngành và bộ dữ liệu khảo sát thực địa phong phú.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Cung cấp tài liệu giảng dạy thực tiễn về các môn học Quản lý thiết chế văn hóa, Xã hội hóa văn hóa và Nghiệp vụ bảo tàng; hệ thống hóa các tình huống quản lý điển hình tại các bảo tàng ngoài công lập (Bảo tàng Hoàng Long, Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, Bảo tàng Đồng Quê, Bảo tàng Tù đày...).
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL, Cục Di sản văn hóa, Sở VHTTDL): Cung cấp luận cứ thực tiễn trực tiếp để rà soát, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến bảo tàng ngoài công lập trong Luật Di sản văn hóa sửa đổi; xây dựng chính sách ưu đãi đất đai, thuế và cơ chế phân cấp quản lý phù hợp.
  • Đối với chủ sở hữu và ban quản lý bảo tàng ngoài công lập: Là cẩm nang tham khảo thực tiễn về phương thức tổ chức bộ máy, giải pháp tạo nguồn thu qua dịch vụ phụ trợ, kết nối mạng lưới du lịch và cải tiến phương pháp trưng bày, bảo quản hiện vật.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam hình thành và phát triển qua các mốc thời gian nào?

Hệ thống bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam trải qua 2 giai đoạn phát triển chính:

  • Giai đoạn 1 (2001 - 2009): Khởi đầu từ khi Luật Di sản văn hóa năm 2001 có hiệu lực, cho phép thành lập "bảo tàng tư nhân". Trong 8 năm, cả nước thành lập được 06 bảo tàng tư nhân.
  • Giai đoạn 2 (2010 - 2021): Bắt đầu từ khi Luật sửa đổi năm 2009 đổi tên thành "bảo tàng ngoài công lập". Hệ thống phát triển mạnh mẽ với 48 bảo tàng mới ra đời, nâng tổng số bảo tàng được cấp phép lên 54 đơn vị vào tháng 3/2021.

2. Cơ cấu sở hữu và thành phần nghề nghiệp của chủ sở hữu bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam như thế nào?

Theo khảo sát của luận án:

  • Về hình thức sở hữu: 59,25% thuộc sở hữu cá nhân (32 bảo tàng) và 40,74% thuộc sở hữu tổ chức, doanh nghiệp, dòng họ (22 bảo tàng).
  • Về nghề nghiệp chủ sở hữu: Doanh nhân chiếm đa số với 54% (29 bảo tàng); cán bộ, giáo viên chiếm 20% (11 bảo tàng); họa sĩ, nghệ sĩ, thợ thủ công chiếm 13% (7 bảo tàng); cựu chiến binh chiếm 4% (2 bảo tàng); chuyên gia có chuyên môn bảo tàng học chiếm 2% (1 bảo tàng - PGS. Nguyễn Văn Huy); các nghề nghiệp khác chiếm 7% (4 bảo tàng).

3. Luận án phân chia các bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam thành những nhóm loại hình nào?

Dựa trên cơ sở lý thuyết phân loại bảo tàng theo bộ sưu tập hiện vật gốc, luận án phân chia thành 6 nhóm:

  1. Bảo tàng lưu niệm sự kiện (ví dụ: Bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày, Ký ức chiến tranh Hà Nội).
  2. Bảo tàng lưu niệm danh nhân (ví dụ: Bảo tàng Nguyễn Tuân, Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên).
  3. Bảo tàng cổ vật (ví dụ: Bảo tàng Cổ vật Hoàng Long, Bảo tàng Vũ khí cổ).
  4. Bảo tàng dân tộc học (ví dụ: Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, Bảo tàng Đồng Quê).
  5. Bảo tàng chuyên ngành (ví dụ: Bảo tàng Radio, Bảo tàng Nhiếp ảnh Lai Xá, Bảo tàng Hóa thạch).
  6. Bảo tàng về di sản văn hóa phi vật thể (ví dụ: Bảo tàng Thế giới Cà phê, Bảo tàng Nước mắm Làng Chài Xưa, Bảo tàng Áo Dài).

4. Khó khăn lớn nhất trong công tác bảo quản và trưng bày tại các bảo tàng ngoài công lập là gì?

Khó khăn lớn nhất là hầu hết các bảo tàng ngoài công lập không có kho bảo quản hiện vật độc lập; hiện vật chủ yếu đưa toàn bộ ra trưng bày ("phòng trưng bày đồng thời là kho"). Công tác kiểm kê, bảo quản khoa học bị xem nhẹ do thiếu kinh phí đầu tư trang thiết bị chuyên dụng và nhân lực thiếu chuyên môn bảo tàng học. Phong cách trưng bày chủ yếu là tự phát ("có gì bày nấy" hoặc liệt kê hiện vật thiếu diễn giải), số lượng bảo tàng thuê chuyên gia tư vấn thiết kế chuyên nghiệp còn rất hạn chế.

5. Những mô hình kinh tế dịch vụ nào đang giúp các bảo tàng ngoài công lập tự chủ tài chính?

Các bảo tàng ngoài công lập duy trì hoạt động hiệu quả thường phát triển đa dạng các nguồn thu dịch vụ gắn với thế mạnh của mình: dịch vụ ẩm thực, nhà hàng (Bảo tàng Cổ vật Hoàng Long); dịch vụ lưu trú, nhà nghỉ du lịch (Bảo tàng Di sản văn hóa Mường); bán vé tham quan kết hợp bán nông sản, rượu đặc sản truyền thống tự sản xuất (Bảo tàng Đồng Quê); cho thuê địa điểm tổ chức sự kiện, quay phim, chụp ảnh cưới (Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, Bảo tàng Áo Dài); kinh doanh các sản phẩm địa phương chế tác từ ngọc trai, sinh vật biển (Bảo tàng Cội Nguồn Phú Quốc).


Kết luận

Luận án "Quản lý các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về bức tranh tổ chức và quản lý hệ thống bảo tàng ngoài công lập dưới góc độ khoa học Quản lý văn hóa. Thông qua việc phân tích thực trạng 54 bảo tàng trên toàn quốc và khảo sát sâu 04 trường hợp điển hình, tác giả đã làm rõ những điểm khác biệt đặc thù giữa bảo tàng công lập và ngoài công lập, chỉ ra những rào cản về thể chế, tài chính, nhân lực và nghiệp vụ bảo tồn. Hệ thống giải pháp 4 nhóm được luận án đề xuất có tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước và định hướng phát triển bền vững cho các bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam.