Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC BẢO TÀNG NGOÀI CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về bảo tàng ngoài công lập của các học giả nước ngoài và Việt Nam 1. Về bảo tàng ngoài công lập ở một số quốc gia trên thế giới Chúng ta nhận thấy đến nay tìm hiểu về bảo tàng ngoài công lập (Private museums) ở các nước trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu được xuất bản.
Trong cuốn “Cơ sở bảo tàng” - Museum basics của hai tác giả Timothy Ambrose và Cripine Paine chủ biên với sự cố vấn của nhiều chuyên gia thuộc Hội đồng Bảo tàng Quốc tế - ICOM được Bảo tàng Cách mạng Việt Nam dịch năm 2000, các tác giả cuốn sách phân loại bảo tàng theo đối tượng chủ quản bao gồm: Các bảo tàng trung ương, các bảo tàng địa phương, các bảo tàng của trường đại học, các bảo tàng quân đoàn, các bảo tàng của các cơ quan thương mại và có đề cập đến loại hình bảo tàng tư nhân hoặc hoạt động độc lập (Independent or Private museum) [72]. Loại hình bảo tàng tư nhân cũng được đề cập đến trong cuốn “Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc” do Vương Hoằng Quân chủ biên xuất bản năm 1990, được Cục Di sản Văn hóa dịch và xuất bản năm 2008. Nội dung cuốn sách có một phần giới thiệu về bảo tàng tư nhân và đưa ra một số thông tin về mô hình sở hữu loại hình bảo tàng này từ khi bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc “Trong số đó, các bảo tàng dân lập, như: Bảo tàng Nghệ thuật Viêm Hoàng được Nhà nước giúp đỡ xây dựng ở Bắc Kinh, Bảo tàng Tử Đàn Trung Quốc do doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn xây dựng, Bảo tàng Máy tính do một nhà sưu tập tư nhân Thượng Hải xây dựng… đều là những bảo tàng tư nhân mới được xây dựng gần đây. Số lượng bảo tàng tư nhân chưa nhiều nhưng đã phản ánh được sự tồn tại của các hình thức sở hữu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đây cũng là bước phát triển mới của việc Nhà nước, tập thể, cá nhân cùng thúc đẩy sự nghiệp bảo tàng” [67, tr. Cuốn “Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga” do Kaulen M.E chủ biên - Viện Văn hóa Nga, Bộ Văn hóa Liên bang Nga xuất bản được Cục Di sản Văn hóa phối hợp với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức dịch và phát hành năm 2006. Cuốn sách có hai phần lớn: Phần I: Lịch sử phát triển của bảo tàng, Phần II: Sự nghiệp bảo tàng hôm nay và ngày mai. Trong phần thứ nhất các tác giả đã giới 11 thiệu về lịch sử phát triển của bảo tàng trên thế giới, đặc biệt đi sâu vào lịch sử bảo tàng ở Nga, trong đó ở chương II các tác giả giới thiệu các sưu tập cổ vật tư nhân thời kỳ Phục hưng ở châu Âu - đây cũng có thể coi là các bảo tàng tư nhân.
Phần I của chương IV cuốn sách giới thiệu về thực trạng bảo tàng ở nước Nga những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI với các loại hình khác nhau trong đó có loại hình bảo tàng tư nhân. Các tác giả cuốn sách đã đưa ra nhận định xu hướng phát triển của loại hình bảo tàng tư nhân “Sự khôi phục bảo tàng tư nhân là dấu hiệu đặc trưng của ngày nay”. Bên cạnh đó các tác giả cũng giới thiệu một loại bảo tàng tương tự như bảo tàng tư nhân đó là bảo tàng và bộ sưu tập của các nghiệp đoàn [50]. Cuốn Cẩm nang quản lý bảo tàng - The Manual of Museum Management của Barry Lord và Gail Dexter Lord do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu, hỗ trợ và Phát triển văn hóa dịch, được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Khóa học mùa hè nghiên cứu và thực hành bảo tàng có đề cập đến hình thức sở hữu tư nhân tập trung vào nội dung về cơ cấu tổ chức của bảo tàng tư nhân “Điều hành trực tiếp bởi các tư nhân, tổ chức hay công ty.
Những bảo tàng này có thể được hoạt động như những tổ chức từ thiện tư nhân hoặc có thể nhằm kiếm lợi nhuận. Nguồn quỹ cho các bảo tàng tư nhân trực tiếp lấy từ chính những nhà sở hữu và từ những nguồn thu có được. Giám đốc thường được tuyển bởi người sở hữu, cũng có thể là người được bổ nhiệm bởi một ban hay uỷ ban cố vấn. Nhân viên là những người được tuyển dụng của công ty tư nhân hay cá nhân.
Các tình nguyện viên rất hiếm” [3]. Tác giả Sharon Macdonald trong cuốn “A Companion Museum studies” (Một nghiên cứu về bảo tàng) (năm 2006 ấn hành bởi nhà xuất bản Blackwell) đã nghiên cứu hệ thống bảo tàng công và tư, từ đó chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại hình bảo tàng này. Trên cơ sở nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tại các bảo tàng ở châu Âu và Mỹ, tác giả đã cho thấy cơ cấu sở hữu công - tư có tác động rất lớn trong quản lý bảo tàng, vấn đề cạnh tranh giữa các bảo tàng nhằm thu hút tối đa lượng khách tham quan, các khoản trợ cấp công, sự đóng góp tài trợ. Các chính sách ưu đãi về thuế của chính phủ đối với các nhà tài trợ cho bảo tàng cũng được nêu lên trong cuốn sách.
Tác giả cũng đề cập đến nhu cầu đối với các bảo tàng gồm cá nhân khách tham quan và từ chính xã hội, từ đó chỉ ra các yếu tố quyết định sự thay đổi nhu cầu, yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham quan của khách. Từ quan điểm kinh tế, tác giả Sharon Macdonald đã nêu ra bốn công việc quan trọng có ảnh hưởng đến hoạt động bảo tàng đó là chất lượng của sưu tập, giá vé, các cuộc triển lãm đặc 12 biệt, sự tiện nghi và dịch vụ phụ trợ dành cho khách [97]. Bài viết “Museums between private and public the case of the Beyeler museum in Basle” (Sự khác biệt giữa bảo tàng tư nhân và công cộng – trường hợp của bảo tàng Beyeler ở Basle) của Bruno S. Frey and Stephan Meier đăng trên tạp chí của Viện Nghiên cứu thực nghiệm về kinh tế - Đại học Zurich số 16 tháng 6 năm 2002 đã nghiên cứu trường hợp của bảo tàng tư nhân Beyeler ở Basel - Thụy Sỹ.
Đây là bảo tàng mới được thành lập năm 1997 dựa trên cơ sở của một sưu tập nghệ thuật gồm 170 tác phẩm có giá trị của nhà sưu tập tư nhân Ernst Beyeler. Đây được coi là bảo tàng thành công nhất ở Thụy Sỹ về số lượng khách truy cập trực tuyến và số lượng khách tham quan bảo tàng. Tác giả đã phân tích nguyên nhân làm nên sự thành công của bảo tàng đến từ bốn yếu tố, đó là áp dụng mô hình kết hợp quản lý công trên cơ sở sưu tập tư nhân, tổ chức các triển lãm đặc biệt trên cơ sở các sưu tập hiện vật có giá trị, đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ trong và ngoài bảo tàng, phát triển các tiện ích tạo thuận lợi cho khách tham quan và linh hoạt chủ động, toàn quyền trong các quyết định tăng nguồn kinh phí cho hoạt động bảo tàng. Bảo tàng này là một ví dụ điển hình của mô hình bảo tàng tư nhân có thể chủ động nguồn kinh phí và phát triển hoạt động bảo tàng hiệu quả [92].
Năm 2008, trong bài viết Hệ thống Bảo tàng ở Nhật Bản đăng trên tạp chí Di sản văn hóa, số 4 [32], tác giả Lê Thị Thúy Hoàn đã trình bày những nhận thức bước đầu khi tiếp cận hệ thống bảo tàng ở Nhật Bản. Thông qua sự phân tích về chủ thể quản lý, về nội dung và giải pháp trưng bày, về nhân lực tham gia hệ thống bảo tàng các cấp ở Nhật Bản, tác giả bài viết đã phác họa một bức tranh toàn cảnh về hệ thống bảo tàng ở Nhật Bản cùng với xu thế phát triển tất yếu của loại hình bảo tàng ngoài công lập ở các nước phát triển trên thế giới. Nhìn chung, dù có lịch sử xuất hiện khá sớm và có mặt ở nhiều nước phát triển trên thế giới nhưng loại hình bảo tàng tư nhân (bảo tàng ngoài công lập) chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về loại hình bảo tàng tư nhân được công bố. Những nhận thức về loại hình bảo tàng ngoài công lập (bảo tàng tư nhân) ở các nước nêu trên thể hiện trong nội dung các cuốn sách còn khá sơ lược, chưa đi sâu vào phân tích điều kiện, bối cảnh lịch sử ra đời, những đặc điểm của loại hình bảo tàng này cũng như phương thức quản lý, cách điều hành và tổ chức hoạt động bảo tàng tư nhân ở các nước… Do còn nhiều khoảng trống trong công tác nghiên cứu loại hình bảo tàng ngoài công lập trong và ngoài nước nên nghiên cứu sinh đã gặp khá nhiều khó khăn khi tìm kiếm các nguồn tư liệu so sánh loại hình bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam với các nước khác, cũng như việc tham khảo, học hỏi kinh nghiệm quản lý loại hình bảo tàng này từ các nước trên thế giới còn nhiều hạn chế.
Các công trình nghiên cứu bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam Ở Việt Nam, bảo tàng tư nhân chính thức ra đời từ sau khi Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001 và được sửa đổi, bổ sung với tên gọi bảo tàng ngoài công lập từ năm 2009, vì vậy, việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về hoạt động của loại hình bảo tàng này chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu trước đây. Từ sau khi những bảo tàng tư nhân hay bảo tàng ngoài công lập đầu tiên được thành lập và đi vào hoạt động thì các nhà nghiên cứu trong nước bắt đầu quan tâm nghiên cứu vấn đề này. Hai công trình khoa học của tác giả Trần Đức Nguyên đã được nghiệm thu, đó là đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2011 “Nghiên cứu thực trạng hoạt động cho các bảo tàng tư nhân ở Hà Nội hiện nay” [57] và đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam” (2014) [58]. Dưới góc độ Bảo tàng học, tác giả của hai công trình nói trên đã đánh giá thực trạng các công tác chuyên môn nghiệp vụ của 17 bảo tàng ngoài công lập, tác giả đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng các hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng.