Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hoá (mã số 9229042) với đề tài "Truyền thông về văn hoá tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021" do nghiên cứu sinh Đào Thị Tuyết Mai thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Từ Thị Loan, bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng, truyền thông giữ vai trò then chốt nhằm phát đi thông điệp, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, đồng thời tổ chức thăm dò, thu thập ý kiến phản hồi phục vụ quá trình xây dựng, điều chỉnh chính sách. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là hệ điều tiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Do tính chất đặc thù đan xen ở mọi mặt đời sống, việc xây dựng và thực thi chính sách văn hóa đòi hỏi sự đồng thuận cao từ xã hội.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016-2021, nhiều sự cố thông tin và khủng hoảng truyền thông trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa đã nảy sinh trên các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội (tiêu biểu như công tác tu bổ tôn tạo di tích, phát ngôn của nghệ sĩ, các hiện tượng lệch chuẩn trên không gian mạng). Trong khi đó, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận truyền thông dưới góc độ công nghệ, tác động xã hội học đơn lẻ của Internet đối với giới trẻ, hoặc các kỹ năng báo chí thuần túy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về truyền thông chính sách văn hóa dưới góc độ khoa học quản lý văn hóa để xác lập truyền thông như một phương thức quản lý và là nguồn lực tạo dựng sự đồng thuận xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021; nhận diện thực trạng truyền thông về văn bản pháp luật, chính sách, truyền thông sự kiện văn hóa và đánh giá hiệu quả của công tác này; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và mô hình nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa, trình bày lý thuyết vận dụng và xác lập khung phân tích của đề tài.
  2. Đánh giá thực trạng truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 thông qua hoạt động của chủ thể truyền thông, công tác phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí, truyền thông chính sách, truyền thông sự kiện, mức độ tiếp nhận thông tin của đối tượng và các nguồn lực bảo đảm.
  3. Nhận diện các vấn đề đặt ra; đề xuất phương hướng, giải pháp và mô hình truyền thông chính sách văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong giai đoạn tiếp theo.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Những thành tố nào tham gia hoạt động truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch?
  2. Thực trạng công tác truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 diễn ra như thế nào?
  3. Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nói riêng và ở Việt Nam nói chung?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Các thành tố chính tham gia hoạt động truyền thông tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gồm chủ thể truyền thông, hoạt động truyền thông, đối tượng tiếp nhận thông tin, nguồn lực truyền thông gắn bó mật thiết với những nội dung và mục tiêu quản lý nhà nước về văn hóa của Bộ.
  2. Công tác truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 đã được quan tâm, đạt một số kết quả bước đầu hỗ trợ cho hoạt động quản lý nhà nước, bám sát yêu cầu chung của cơ quan nhà nước, tuy nhiên hiệu quả thực tế chưa cao.
  3. Để nâng cao hiệu quả truyền thông về văn hóa phục vụ công tác quản lý nhà nước tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cần một hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ, toàn diện, có tầm nhìn dài hạn, đặc biệt cần phát huy vai trò của bộ phận chuyên trách về truyền thông và xây dựng mô hình truyền thông văn hóa bài bản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên các phương diện: chủ thể truyền thông, phương thức truyền thông, nội dung truyền thông, đối tượng tiếp nhận thông tin và hiệu quả truyền thông.
  • Đối tượng khảo sát: Nhà quản lý văn hóa, người làm công tác truyền thông tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các địa phương (Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phòng Văn hóa, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện/thị xã); đại diện chủ thể sáng tạo và thực hành văn hóa (nghệ nhân, nghệ sĩ); người dân sinh sống tại một số địa phương.
  • Phạm vi không gian: Các đơn vị quản lý nhà nước và các cơ quan báo chí, truyền thông thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tập trung vào Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc và Tạp chí Văn hóa nghệ thuật.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016-2021, mốc thời gian bắt đầu từ khi bộ phận chuyên trách về truyền thông được thành lập tại Văn phòng Bộ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác truyền thông các văn bản chính sách do Bộ ban hành và các sự kiện, hoạt động văn hóa do Bộ tổ chức nhằm thực thi chính sách; đi sâu phân tích 3 lĩnh vực có nhiều vấn đề quản lý nổi cộm: di sản văn hóa, quản lý lễ hội và điện ảnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu theo 2 nhóm chủ đề chính ở cả phạm vi quốc tế và trong nước:

1. Nhóm các công trình nghiên cứu về truyền thông và truyền thông chính sách

  • Nghiên cứu quốc tế:
    • Khởi đầu từ định nghĩa và mô hình truyền thông của Harold Lasswell (1927, 1948) với cấu trúc "Ai nói cái gì, bằng kênh nào, với ai, với hiệu ứng thế nào" (Who says what in which channel to whom with what effect) và các thực nghiệm tâm lý học truyền thông của Hovland cùng cộng sự.
    • Năm 1956, Fred S. Siebert, Theodore Peterson và Wilbur Schramm công bố tác phẩm Four Theories of the Press (Bốn lý thuyết truyền thông), đặt nền tảng so sánh hệ thống báo chí gắn liền với thể chế chính trị.
    • Năm 1980, Ủy ban Truyền thông Quốc tế thuộc UNESCO công bố báo cáo Many Voices, One World (Nhiều tiếng nói, một thế giới), phân tích sự bất bình đẳng trong dòng chảy thông tin toàn cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao tính độc lập, tự quyết của hệ thống truyền thông quốc gia.
    • Các nghiên cứu ứng dụng: Nghiên cứu của Hudson về vai trò của mạng lưới viễn thông đối với kinh tế - xã hội; Thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications); trường phái Cultural Studies của Stuart Hall với mô hình mã hóa và giải mã thông điệp (Encoding/Decoding).
    • Giai đoạn cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI: Arthur Asa Berger (1995) trong Essentials of Mass Communication Theory xác lập 5 yếu tố nghiên cứu truyền thông (văn bản, nghệ sĩ, khán giả, xã hội, phương tiện truyền tải); Merrill Morris và Christine Ogan (1997) nghiên cứu lý thuyết sự hiện diện xã hội qua máy tính; David Gauntlett (1998) với Ten Things Wrong With the Media Effects Model; Blake Te'Neil Lloyd (2000) nghiên cứu tác động của video âm nhạc đến thanh thiếu niên; John Fiske (1982, 1990, 2002) với Introduction to Communication Studies; Leah A. Lievrouw và Sonia Livingstone (2006) với Handbook of New Media; S. Price (2008) với Media Studies; Werner J. Severin và James W. Tankard Jr (2014) với Communication Theories: Origins, Methods, Uses.
    • Về truyền thông chính sách: Nghiên cứu của chuyên gia Hàn Quốc Uhm Seung-Yong (2016) xác định truyền thông chính sách là hoạt động trung tâm trong toàn bộ chu trình chính sách của chính phủ nhằm tìm kiếm sự ủng hộ và xây dựng đồng thuận xã hội.
  • Nghiên cứu trong nước:
    • Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2014) trong Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản phân tích hệ thống khái niệm, cơ chế, kỹ năng và quy trình truyền thông.
    • Phan Tân và Bùi Phương Đình (2014) khảo sát sự hình thành nhanh chóng của dư luận xã hội trên môi trường truyền thông mới.
    • Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Truyền thông chính sách kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc (2016) làm rõ các khía cạnh lý luận và so sánh thực tiễn truyền thông chính sách giữa hai quốc gia.
    • Các nghiên cứu về mạng xã hội và truyền thông số của Lê Thu Quỳnh (2003), Lê Thị Minh Trà (2004), Ngô Lan Hương (2006), Trần Thị Oanh (2009), Lê Minh Thanh (2010), Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2011), Hoàng Thị Hải Yến (2012), Nguyễn Minh Hạnh (2013).

2. Nhóm các công trình nghiên cứu về truyền thông trong lĩnh vực văn hóa và quản lý văn hóa

  • Nghiên cứu quốc tế: Theodor W. Adorno (1949) trong Philosophy of New Music tiếp cận âm nhạc và truyền thông dưới góc độ phê phán Mác-xít của trường phái Frankfurt; sách dịch Trung Quốc - Thách thức nghiêm trọng của thế kỷ 21 (Nxb Văn hóa thông tin, 2004) bàn về bảo vệ bản sắc trước toàn cầu hóa; Kristin Thompson và David Bordwell (2012) khảo sát tập đoàn Disney về mặt kinh tế - chính trị điện ảnh; Woongjae Ryoo (2009) nghiên cứu hiện tượng Hallyu qua lý thuyết lai tạp văn hóa (hybridization).
  • Nghiên cứu trong nước: Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002); các công trình nghiên cứu xã hội học truyền thông của Bùi Hoài Sơn (2006, 2008) về ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội và những biến đổi văn hóa xã hội; Bùi Quang Thắng (2007) về tác động của phương tiện truyền thông mới đến đời sống văn hóa cư dân đô thị; Nguyễn Quý Thanh (2011) với Internet - Sinh viên - Lối sống; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2019) về giải pháp truyền thông ngành văn hóa, thể thao và du lịch.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên đã tiếp cận truyền thông từ nhiều chiều kích lý thuyết và thực tiễn, các công trình trong nước chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá tác động văn hóa - xã hội của công nghệ hoặc khảo sát hoạt động thông tin tuyên truyền một chiều. Đề tài cấp Bộ năm 2019 bước đầu thu thập dữ liệu tiếp nhận thông tin nhưng chưa nghiên cứu từ góc độ truyền thông chính sách, chưa phân tích chu trình chính sách văn hóa và chưa xây dựng mô hình truyền thông gắn kết chặt chẽ với chức năng quản lý nhà nước về văn hóa. Luận án của Đào Thị Tuyết Mai là công trình chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam giải quyết khoảng trống này: khảo sát và mô hình hóa hoạt động truyền thông chính sách văn hóa như một công cụ quản lý nhà nước nhằm tạo lập sự đồng thuận xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-Setting Theory): Khởi nguồn từ công trình Public Opinion (1922) của Walter Lippmann với luận điểm về "Thế giới bên ngoài và những hình ảnh trong đầu chúng ta", chỉ ra rằng công chúng không phản ứng trực tiếp với môi trường thực tế mà phản ứng với "môi trường giả" do các phương tiện truyền thông định hình. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải cách thức các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cơ quan báo chí lựa chọn vấn đề ưu tiên, định hướng sự quan tâm của công chúng đối với các văn bản quy phạm pháp luật và sự kiện văn hóa.
  • Khung phân tích chu trình truyền thông: Luận án vận dụng mô hình quy trình truyền thông gồm 5 bước và 1 khâu do Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng đề xuất:
    1. Nghiên cứu ban đầu công chúng/nhóm đối tượng;
    2. Thiết kế thông điệp;
    3. Chọn kênh thông tin;
    4. Động viên, chuẩn bị tài liệu;
    5. Triển khai chiến dịch truyền thông;
    • Khâu xuyên suốt: Kiểm tra, giám sát, đánh giá và nghiên cứu phản hồi.
  • Hệ thống khái niệm công cụ:
    • Văn hóa: Khảo cứu từ định nghĩa dân tộc học của Edward B. Tylor (1874), định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh và định nghĩa của UNESCO. Dưới góc độ quản lý nhà nước, văn hóa được khu biệt thành các lĩnh vực quản lý cụ thể của Bộ: di sản văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quyền tác giả, thư viện, quảng cáo, văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc.
    • Chính sách văn hóa: Vận dụng định nghĩa của UNESCO (1998 tại Hội nghị Stockholm), tài liệu Quản lý hoạt động văn hóa (1998) và nghiên cứu của Nguyễn Văn Tình (2006).
    • Truyền thông chính sách văn hóa (TTCSVH): Luận án đề xuất khái niệm mới: TTCSVH là quá trình điều phối và quản lý dòng chảy thông tin về chính sách văn hóa, góp phần tác động, điều chỉnh mối quan tâm, sự tham gia đóng góp của các tầng lớp xã hội đối với chính sách văn hóa bằng các phương thức khác nhau.
    • Năng lực truyền thông của công chúng: Phân định thành 4 cấp độ kế tiếp: Biết thông tin chính sách $\rightarrow$ Chủ động thảo luận, góp ý $\rightarrow$ Hiểu rõ chính sách $\rightarrow$ Tích cực thực thi. Tiếp nhận truyền thông văn hóa gồm các nấc: Tiếp cận $\rightarrow$ Hiểu $\rightarrow$ Đánh giá $\rightarrow$ Chủ động tham gia.

Bảng so sánh bản chất giữa Tuyên truyền và Truyền thông được luận án tổng hợp như sau:

Tiêu chí so sánh Tuyên truyền Truyền thông
Vị thế chủ thể Đề cao (tuyệt đối hóa) chủ thể Đề cao công chúng
Phương thức tương tác Coi trọng áp đặt, một chiều Đề cao tương tác bình đẳng, hai chiều
Mục tiêu tiếp nhận Nhấn mạnh truyền đạt để chấp hành, có tính bắt buộc Coi trọng chia sẻ, tìm kiếm tương đồng, tôn trọng sự khác biệt
Mục đích xã hội Tiến tới tương đồng, đồng nhất bằng cách xóa bỏ sự khác biệt Gia tăng tương đồng; giảm dần sự khác biệt; bảo lưu sự khác biệt
Mô hình luân chuyển Mô hình truyền thông một chiều từ trên xuống Mô hình truyền thông hai chiều, đa chiều
Đặc tính kinh tế - xã hội Chủ yếu bao cấp vì mục đích tuyên truyền chính trị Là ngành kinh tế - dịch vụ xã hội phát triển (tập đoàn truyền thông)
Bối cảnh áp dụng Các nước theo định hướng XHCN phổ biến dùng cả trong đối nội và đối ngoại Phương Tây chủ yếu dùng trong chính sách đối nội, dùng tuyên truyền trong đối ngoại

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành (khoa học quản lý văn hóa giữ vai trò chủ đạo, kết hợp văn hóa học, xã hội học, lý luận báo chí - truyền thông) và kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với phân tích dữ liệu định lượng:

  1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Nghiên cứu các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Luật Báo chí, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống luật chuyên ngành (Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh), các nghị định, thông tư và báo cáo tổng kết chuyên môn của các Cục, Vụ thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Kế thừa số liệu định lượng thứ cấp từ đề tài khoa học cấp Bộ "Giải pháp truyền thông trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch (qua khảo sát các hoạt động do Bộ VHTTDL thực hiện)" do chính nghiên cứu sinh làm thư ký đề tài và trực tiếp thực hiện khảo sát trong giai đoạn 2018-2019. Tổng quy mô mẫu điều tra gồm 500 phiếu hỏi, chia làm 2 nhóm đối tượng: nhóm "cán bộ quản lý" và nhóm "người dân".
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Kế thừa các phỏng vấn từ đề tài cấp Bộ và thực hiện bổ sung 30 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với các nhà quản lý văn hóa, chuyên gia truyền thông, đại diện chủ thể sáng tạo (nghệ nhân, nghệ sĩ) và công chúng nhằm thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu.
  4. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến khoa học của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý văn hóa, chính sách công và truyền thông báo chí.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về hoạt động truyền thông của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Chương 1 chiếm 41 trang, tập trung xây dựng nền tảng lý thuyết và tổng tài liệu. Sau khi hệ thống hóa các xu hướng nghiên cứu quốc tế và Việt Nam, luận án xác lập các khái niệm then chốt và khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa truyền thông với quản lý nhà nước về văn hóa. Truyền thông là công cụ hỗ trợ thiết yếu nhằm thực hiện cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý và quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp 2013.

Luận án phân tích cấu trúc 4 thành tố cơ bản tham gia hoạt động truyền thông tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

  1. Chủ thể truyền thông: Lãnh đạo Bộ, người phát ngôn (Văn phòng Bộ), các cơ quan quản lý chuyên ngành (Cục Di sản văn hóa, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Cục Điện ảnh...) và các đơn vị báo chí trực thuộc Bộ.
  2. Đối tượng tiếp nhận: Chia thành hai nhóm khách thể chính gồm chủ thể sáng tạo/thực hành văn hóa (văn nghệ sĩ, nhà làm phim, nghệ nhân) và đối tượng thụ hưởng văn hóa (các tầng lớp nhân dân).
  3. Hoạt động và phương thức truyền thông: Phân loại thành 4 nhóm phương thức gồm truyền thông trực tiếp (tọa đàm, hội thảo); truyền thông đại chúng và mạng xã hội; sản phẩm truyền thông trực quan; truyền thông thông qua ngôn ngữ nghệ thuật biểu diễn.
  4. Nguồn lực truyền thông: Gồm nguồn lực thông tin, nguồn lực vật lực (hạ tầng công nghệ, kênh truyền thông) và nguồn lực tài lực.

Đồng thời, chương này tổng thuật kinh nghiệm tổ chức truyền thông chính sách của một số quốc gia (Canada, Nhật Bản, Đan Mạch, Hàn Quốc) và mô hình bộ máy truyền thông tại các Bộ, ngành của Việt Nam (các đơn vị thành lập Vụ Truyền thông như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường; hoặc thành lập trung tâm thông tin chuyên biệt). Tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, bộ phận truyền thông chuyên trách được hình thành trực thuộc Văn phòng Bộ từ năm 2016.

Chương 2: Thực trạng truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021

Chương 2 có dung lượng 57 trang, trình bày kết quả khảo sát thực địa và phân tích thực trạng công tác truyền thông của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch qua các dữ liệu thực tế:

  • Chủ thể truyền thông và công tác phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí: Bộ đã thiết lập quy chế phát ngôn, tổ chức họp báo định kỳ và xử lý các điểm nóng dư luận. Tuy nhiên, tính chủ động cung cấp thông tin chưa cao, việc giải quyết khủng hoảng truyền thông trong một số vụ việc còn bị động, lúng túng.
  • Truyền thông văn bản, chính sách: Việc công khai dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu dừng lại ở hình thức đăng tải thụ động trên Cổng thông tin điện tử của Bộ theo quy định hành chính của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thiếu các chiến dịch truyền thông giải thích chính sách chuyên nghiệp để thu hút phản biện xã hội.
  • Truyền thông về sự kiện văn hóa: Hoạt động truyền thông các liên hoan phim, ngày hội văn hóa, festival được triển khai tương đối rầm rộ nhưng nặng về tính cổ động bề nổi, chưa duy trì được dòng thông tin xuyên suốt sau khi sự kiện kết thúc.
  • Hoạt động truyền thông trong 3 lĩnh vực trọng điểm:
    1. Lĩnh vực di sản văn hóa: Truyền thông thường xuyên rơi vào thế ứng phó bị động trước các sự cố sai phạm trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích khi báo chí và mạng xã hội phát giác.
    2. Lĩnh vực quản lý lễ hội: Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh có nhiều chuyển biến, song công tác truyền thông giải quyết các hiện tượng tiêu cực, phản cảm tại lễ hội dân gian còn chưa triệt để.
    3. Lĩnh vực điện ảnh: Quá trình truyền thông xây dựng dự thảo Luật Điện ảnh (sửa đổi) cho thấy sự tương tác giữa nhà quản lý và giới làm phim, khán giả còn nhiều bất cập, đặc biệt về vấn đề phân loại phim và phổ biến phim trên không gian mạng.
  • Thực trạng tiếp nhận thông tin và nguồn lực truyền thông: Phân tích dữ liệu khảo sát định lượng (500 phiếu) phản ánh qua 5 biểu đồ trọng tâm trong luận án:
    • Nguồn tiếp cận thông tin (Biểu đồ 1, tr. 67): Truyền hình và mạng xã hội là các kênh chiếm tỷ lệ chi phối trong việc người dân tiếp nhận thông tin văn hóa.
    • Mức độ trao đổi về văn bản chính sách (Biểu đồ 2, tr. 90): Tỷ lệ nghe, nói, thảo luận về các văn bản quy phạm pháp luật có sự chênh lệch lớn giữa nhóm cán bộ quản lý và người dân; người dân ít có điều kiện tiếp cận các văn bản dự thảo.
    • Mức độ nhận biết sự kiện văn hóa (Biểu đồ 3, tr. 93): Sự kiện lễ hội và liên hoan phim có mức độ nhận biết cao hơn hẳn các hoạt động chuyên môn khác.
    • Đánh giá nguồn tài chính (Biểu đồ 4, tr. 95): Đa số ý kiến khảo sát đánh giá nguồn kinh phí cấp cho công tác truyền thông văn hóa còn hạn hẹp, mang tính vụ việc.
    • Mức độ nhận biết kênh thông tin của Bộ (Biểu đồ 5, tr. 101): Nhận diện của công chúng đối với Cổng thông tin điện tử của Bộ, Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc và Tạp chí Văn hóa nghệ thuật chưa đạt mức đồng đều.
  • Đánh giá chung: Công tác truyền thông đã từng bước tạo lập sự gắn kết với nhiệm vụ quản lý ngành, tuy nhiên còn bộc lộ các hạn chế: phản ứng chậm trước truyền thông mạng xã hội, phương thức nghèo nàn, nhân lực chuyên trách mỏng, nguồn lực vật chất và tài chính chưa đáp ứng yêu cầu.

Chương 3: Những vấn đề đặt ra, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa

Chương 3 có độ dài 35 trang, xác định 6 vấn đề đặt ra xuất phát từ thực trạng:

  1. Nhận thức về vai trò của truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa chưa tương xứng với thực tiễn;
  2. Môi trường thể chế, hành lang pháp lý cho truyền thông chính sách văn hóa còn nhiều điểm bất cập;
  3. Khoảng cách giữa chính sách văn hóa và thực tiễn đời sống chưa được lấp đầy bằng truyền thông hai chiều;
  4. Thiếu chiến lược dài hạn và kế hoạch truyền thông bài bản, tính chuyên nghiệp của đội ngũ chưa cao;
  5. Công tác truyền thông gặp áp lực cạnh tranh thông tin gay gắt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số;
  6. Tính tương tác hai chiều giữa chủ thể và đối tượng còn yếu, năng lực truyền thông của cộng đồng chưa được bồi đắp.

Từ các phân tích trên, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể và 1 mô hình vận hành:

  • Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Tuyển chọn, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng phát ngôn, kỹ năng quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng truyền thông cho đội ngũ cán bộ chuyên trách và cán bộ quản lý văn hóa các cấp.
  • Nhóm giải pháp về nguồn lực thông tin: Xây dựng quy chế cung cấp thông tin minh bạch, chủ động cung cấp thông tin cho báo chí ngay từ khâu soạn thảo chính sách; hoàn thiện cơ chế phản hồi ý kiến nhân dân.
  • Nhóm giải pháp về kênh truyền thông và hạ tầng kỹ thuật: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin; chuyển đổi các cơ quan báo chí của Bộ theo mô hình tòa soạn hội tụ; tối ưu hóa Cổng thông tin điện tử và thiết lập các trang chính thức trên các nền tảng mạng xã hội để tăng cường tương tác trực tiếp.
  • Nhóm giải pháp về tài chính: Đa dạng hóa nguồn lực tài chính, bố trí ngân sách độc lập và thỏa đáng cho công tác truyền thông chính sách theo từng đề án, chiến dịch cụ thể thay vì cấp kinh phí dàn trải, bị động.
  • Nhóm giải pháp chiến lược: Xây dựng chiến lược truyền thông văn hóa tổng thể phân theo từng lĩnh vực chuyên môn (di sản văn hóa, công nghiệp văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn).
  • Đề xuất mô hình truyền thông chính sách văn hóa (tr. 145): Thiết lập mô hình vận hành tương tác đa chiều giữa: Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL) $\leftrightarrow$ Cơ quan báo chí, truyền thông $\leftrightarrow$ Chủ thể sáng tạo và đối tượng thụ hưởng văn hóa (doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, người dân), lấy sự đồng thuận xã hội làm thước đo hiệu quả chính sách.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về truyền thông trong mối quan hệ hữu cơ với quản lý nhà nước về văn hóa; phân định rõ sự khác biệt giữa mô hình tuyên truyền truyền thống một chiều và mô hình truyền thông hiện đại tương tác hai chiều.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học mới về "Truyền thông chính sách văn hóa" (TTCSVH), khẳng định đây là quá trình điều phối dòng chảy thông tin nhằm thu hút sự tham gia của xã hội và tạo dựng sự đồng thuận như một nguồn lực của quản lý nhà nước.
  • Bổ sung hệ thống cấp độ năng lực truyền thông của công chúng trong chu trình chính sách văn hóa (từ biết thông tin $\rightarrow$ thảo luận $\rightarrow$ hiểu $\rightarrow$ thực thi) và các mức độ tiếp nhận thông tin (tiếp cận $\rightarrow$ hiểu $\rightarrow$ đánh giá $\rightarrow$ chủ động tham gia).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phác thảo bức tranh thực trạng công tác truyền thông của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 qua các dữ liệu thực tế tại 3 cơ quan báo chí chủ quản và Cổng thông tin điện tử, làm rõ những mặt hạn chế trong công tác phát ngôn, cung cấp thông tin và giải quyết khủng hoảng truyền thông.
  • Phân tích chuyên sâu thực tiễn truyền thông trong 3 lĩnh vực then chốt có tính thời sự cao: di sản văn hóa, quản lý lễ hội và điện ảnh.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để tái cơ cấu bộ phận truyền thông chuyên trách của Bộ; đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả 4 nguồn lực (nhân lực, thông tin, kênh truyền dẫn, tài lực) và thiết lập mô hình truyền thông chính sách văn hóa ứng dụng vào thực tế ngành văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi khảo sát cơ quan quản lý: Luận án tập trung khảo sát tại các đơn vị trực thuộc cơ quan Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và một số cơ quan báo chí thuộc Bộ; chưa mở rộng điều tra toàn diện hệ thống quản lý văn hóa ở cấp cơ sở tại toàn bộ các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cả nước.
  • Phạm vi lĩnh vực chuyên ngành: Trong cấu trúc đa ngành của Bộ, đề tài chỉ lựa chọn khảo sát sâu 3 lĩnh vực nổi cộm (di sản văn hóa, lễ hội, điện ảnh); các mảng hoạt động khác như bản quyền tác giả, thư viện, mỹ thuật - nhiếp ảnh, thể thao và du lịch chưa được khảo sát chi tiết.
  • Giới hạn nguồn dữ liệu định lượng: Số liệu điều tra xã hội học định lượng dựa trên việc kế thừa và xử lý lại dữ liệu từ đề tài khoa học cấp Bộ giai đoạn 2018-2019 (500 phiếu) kết hợp 30 phỏng vấn sâu bổ sung, chưa tổ chức được cuộc điều tra mẫu diện rộng trên phạm vi toàn quốc tại thời điểm năm 2021-2022.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các lĩnh vực quản lý chuyên ngành khác của Bộ, đặc biệt là công nghiệp văn hóa và quyền tác giả trên không gian số.
  • Khảo sát thực chứng mô hình truyền thông chính sách văn hóa tại chính quyền địa phương các cấp (tỉnh, huyện, xã) nhằm đánh giá sự phân cấp quản lý truyền thông.
  • Nghiên cứu sâu cơ chế xử lý khủng hoảng truyền thông ngành văn hóa trong bối cảnh các phương tiện truyền thông mới và trí tuệ nhân tạo phát triển phức tạp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn phòng Bộ, Cục Di sản văn hóa, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Cục Điện ảnh và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc hoàn thiện quy chế phát ngôn, tổ chức các chiến dịch truyền thông chính sách và xử lý khủng hoảng thông tin.
  • Đối với các cơ quan báo chí, xuất bản: Giúp các cơ quan báo chí ngành văn hóa (Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật) định vị lại vai trò cầu nối thông tin hai chiều, triển khai mô hình tòa soạn hiện đại phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Quản lý văn hóa, Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Xã hội học văn hóa và Chính sách công.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật: Khung phân tích chu trình truyền thông chính sách văn hóa (Chương 1), dữ liệu khảo sát thực trạng tiếp nhận thông tin (Chương 2) và đề xuất mô hình truyền thông chính sách văn hóa phục vụ quản lý nhà nước (Chương 3, tr. 145).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "Truyền thông chính sách văn hóa" như thế nào?

Theo tác giả Đào Thị Tuyết Mai, truyền thông chính sách văn hóa là quá trình điều phối và quản lý dòng chảy thông tin về chính sách văn hóa, góp phần tác động, điều chỉnh mối quan tâm, sự tham gia đóng góp của các tầng lớp xã hội đối với chính sách văn hóa bằng các phương thức khác nhau. Hoạt động này nhằm mục đích tạo lập sự đồng thuận xã hội như một nguồn lực quan trọng để xây dựng văn hóa Việt Nam.

2. Dữ liệu định lượng trong luận án được thu thập từ nguồn nào và quy mô ra sao?

Số liệu định lượng sử dụng trong luận án là dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Giải pháp truyền thông trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch (qua khảo sát các hoạt động do Bộ VHTTDL thực hiện)" do chính nghiên cứu sinh làm thư ký đề tài và trực tiếp thực hiện khảo sát trong hai năm 2018-2019. Quy mô mẫu điều tra gồm 500 phiếu hỏi, chia cho 2 nhóm đối tượng là cán bộ quản lý và người dân.

3. Luận án đi sâu khảo sát thực trạng truyền thông trong những lĩnh vực văn hóa cụ thể nào?

Trong phạm vi quản lý đa ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, luận án tập trung phân tích sâu vào 3 lĩnh vực có nhiều vấn đề quản lý nổi cộm và nhận được sự quan tâm lớn của dư luận trong giai đoạn 2016-2021: lĩnh vực di sản văn hóa (các vụ việc sai phạm trong tu bổ di tích), lĩnh vực quản lý lễ hội (thực hiện nếp sống văn minh tại lễ hội) và lĩnh vực điện ảnh (quá trình xây dựng Luật Điện ảnh sửa đổi và quản lý phim ảnh).

4. Lý thuyết truyền thông cốt lõi nào được luận án vận dụng để phân tích?

Luận án vận dụng Thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-Setting Theory) có nguồn gốc từ công trình Public Opinion (1922) của Walter Lippmann. Lý thuyết này được tác giả sử dụng nhằm phân tích cách thức cơ quan quản lý và các phương tiện truyền thông định hướng sự chú ý của công chúng vào các nội dung chính sách và sự kiện văn hóa trọng tâm.

5. Sự khác biệt cơ bản giữa tuyên truyền và truyền thông được luận án xác định ở điểm nào?

Căn cứ nghiên cứu của Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng, luận án chỉ rõ tuyên truyền là mô hình một chiều, đề cao tuyệt đối chủ thể, mang tính áp đặt và bắt buộc nhằm xóa bỏ sự khác biệt vì mục đích chính trị; trong khi đó, truyền thông là mô hình hai chiều, bình đẳng, đề cao công chúng, tôn trọng sự khác biệt và hướng tới sự chia sẻ, đồng thuận xã hội.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Truyền thông về văn hoá tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021" của Đào Thị Tuyết Mai là công trình khoa học chuyên ngành Quản lý văn hoá tiếp cận vấn đề truyền thông chính sách một cách có hệ thống. Bằng việc phối hợp phương pháp liên ngành và sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn sâu, luận án đã làm rõ thực trạng công tác phát ngôn, truyền thông chính sách, truyền thông sự kiện và các nguồn lực bảo đảm tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Công trình đóng góp về mặt học thuật qua việc xác lập định nghĩa truyền thông chính sách văn hóa và đề xuất mô hình cùng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong giai đoạn chuyển đổi số.