chương I - Yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong quá trình hình thành và phát triển của kịch bản chèo; chương II - Sự kết hợp giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong kịch bản chèo; chương III - Vấn đề kết hợp yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong kịch bản Chèo mới. Dựa trên các kịch bản chèo đưa linh, huyết hồ phú, huyết hồ trò, Từ Thức, Phan Trần, Quan Âm Thị Kính. tác giả đã nghiên cứu yếu tố dân gian trong chèo và rút ra kết luận về sự phát triển của chèo trong giai 16 đoạn sơ khai. Tác giả đã đi sâu vào phân tích sự kết hợp giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong tổ chức kết cấu kịch bản, trong xây dựng nhân vật, trong văn học.
Đồng thời chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học như là mối quan hệ tất yếu, góp phần làm nên giá trị nghệ thuật chèo. Ngoài công trình này, Trần Đình Ngôn còn có một số công trình nghiên cứu lý luận về chèo như: Đường trường phải chiều (1993) Đường trường chông chênh (1997), tiêu biểu trong số đó là công trình Nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật chèo, Nxb Sân khấu, Hà Nội, (2005). Đây là một trong số ít công trình đã tổng kết và đưa ra hệ thống lý luận về phương pháp nghệ thuật chèo. Tác giả Tất Thắng cũng là nhà nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật sân khấu, trong đó có chèo.
Bên cạnh hàng loạt các công trình nghiên cứu về sân khấu truyền thống nói chung, ông có công trình đáng chú ý là Nghệ thuật Chèo – nhận thức từ một phía (2007), Nxb Văn học, Hà Nội [71]. Nhà nghiên cứu Trần Trí Trắc cũng có nhiều nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu, trong đó có các bài viết về nghệ thuật chèo, như cuốn Sân khấu và nghệ sĩ sáng tạo (Phê bình và tiểu luận) [74], Chèo Cách mạng [75]. Cho đến nay, dù chưa tài liệu nào khẳng định chính xác thời điểm ra đời của nghệ thuật chèo, nhưng có thể thấy, từ thời văn nghệ dân gian xa xưa, người nông dân Việt vùng châu thổ sông Hồng đã tổ chức lễ hội nông nghiệp cổ truyền (hội làng“xuân thu nhị kì", "đến hẹn lại lên”) vào những dịp nông nhàn của hai vụ lúa xuân và thu, tại các lễ hội này đã hiện diện nghi lễ diễn xưởng dân gian - tiền đề hình thành nghệ thuật chèo. Rồi dần phát triển thành những vở chèo cổ với đầy đủ tích diễn và trò diễn của những phường chèo, lưu diễn làng này sang làng khác, theo phương thức phường gánh cổ truyền.
Đến thời kỳ cận đại, đặc biệt là vào giai đoạn từ cuối thế kỷ 17 XVIII đến thế kỷ XIX, nghệ thuật tuồng, chèo đã trở thành hiện tượng văn hóa độc đáo, có ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần của người nông dân châu thổ Bắc Bộ. Bởi chèo vốn thấm đẫm màu sắc dân gian của sân khấu chân quê, đầy tiếng cười hài hước của hề chèo và là nghệ thuật lưu dấu nhiều giá trị bản sắc của văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Trong diễn trình lịch sử dân tộc, từng có thời kỳ nghệ thuật sân khấu nói chung, nghệ thuật chèo nói riêng bị nhà nước phong kiến miệt thị, bạc đãi. Mang thân phận con hát, “xướng ca vô loại”, người nghệ sĩ chèo không được xếp vào thứ hạng nào trong xã hội, nhưng nghệ thuật chèo vẫn sống, chèo vẫn được bao thế hệ người Việt nâng niu, đùm bọc.
Bởi lẽ chèo là một loại hình nghệ thuật được sinh ra từ văn hóa dân gian, là tiếng nói, niềm vui của người dân quê lao động. Trảỉ qua thăng trầm cùng lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt, chèo đã thành một loại hình sân khấu mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, được tồn tại với công chúng hiện đại cho đến hôm nay và không chỉ hôm nay. Nghiên cứu về bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo Bên cạnh công trình về lịch sử nghệ thuật chèo, đã xuất hiện công trình, bài viết định hướng phát triển và giải pháp bảo tồn nghệ thuật chèo: Tác giả Trần Bảng đã viết loạt bài nghiên cứu sâu về chèo, tập hợp lại thành cuốn Chèo - một hiện tượng sân khấu dân tộc [4], được Viện Sân khấu tái bản với tên sách là Khái luận về chèo. Trần Bảng đưa yêu cầu với người làm chèo trước hết phải nắm vững “chất chèo”, cũng có nghĩa là nắm được đặc trưng cấu trúc của chèo.
Theo ông, vở chèo mới dù viết về đề tài gì nhưng nếu biết tiếp nối cách cấu trúc chèo truyền thống, biết xây dựng, xử lý và chuyển hoá mô hình truyền thống thì đều được khán giả công nhận là có chất chèo. Trái lại “mọi ý đồ “nâng cao” nghệ thuật chèo thành những loại nhạc kịch, tiểu ca kịch, vũ kịch phương Tây đều dẫn đến kết quả là lấy cấu trúc của một kịch chủng ngoại lai thay thế cho cấu trúc chèo và từ đó làm mất đi 18 cái riêng biệt của nó” [5, tr. Trần Bảng còn có tác phẩm Trần Bảng, đạo diễn chèo [6]. Trong đó, Trần Bảng thẳng thắn chỉ ra ngộ nhận, sai lầm của mình và nhiều nhà làm chèo đã từng tiếp nhận khuynh hướng tả thực của sân khấu phương Tây, coi đó là yếu tố văn minh tiến bộ, mà cải cách tuồng, chèo.
Ông cho rằng, hơn nửa thế kỷ qua, quan điểm sai lầm này luôn là một trở ngại lớn trên đường phục hồi và phát triển sân khấu truyền thống. Ông nhấn mạnh: “Sở dĩ phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần điều này là để những người làm chèo nhất là lớp nghệ sĩ trẻ một lần nữa nhận thức rõ sự thật, quyết tâm tự giải thoát mình khỏi sự ràng buộc đầy tính nghịch lý này” [6, tr. Trong thực tế dàn dựng, có thể thấy Trần Bảng đã thực thi một cách đạo diễn xuất sắc đối với vở chèo cổ “Quan Âm Thị Kính”. Trong nửa thế kỉ hành nghề, Trần Bảng đã ba lần thay đổi mô hình thẩm mỹ vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính.
Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái đã có bài phân tích "Ba lần thay đổi mô hình thẩm mỹ vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính" [69, tr.22] của đạo diễn Trần Bảng. Tác giả cho rằng, bằng tư duy chèo có phương pháp căn cơ chèo và "một trái tim say đắm với nghệ thuật chèo", đạo diễn Trần Bảng đã tạo nên một vở diễn xuất sắc, góp phần đáng kể trong việc giữ gìn và "làm sáng giá" cho nghệ thuật chèo Việt Nam. Tác giả cũng cho rằng:. Chỉ có tư duy chèo thật truyền thống (với nhận thức đầy đủ về bản chất ngôn ngữ nghệ thuật, nguyên tắc mỹ học đặc thù của chèo) và tư duy đó lại phải thật hiện đại về phương pháp, mới có thể "giải cứu" sân khấu chèo thoát khỏi tình trạng "bạc phai chất thơ nguyên chất" và sự khủng hoảng người xem đã rất nhãn tiền hôm nay.
Vào giai đoạn từ những năm 1990, nghệ thuật chèo đối mặt với những khó khăn thách thức như: thiếu kịch bản, đạo diễn, diễn viên, sân khấu vắng 19 khách, đặc biệt là sự khủng hoảng về đường hướng phát triển. Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức Hội thảo Thực trạng chèo hôm nay. Tại Hội thảo có nhiều bài viết phân tích thực trạng nghệ thuật chèo trong đời sống và đề xuất những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật chèo: Lời đề dẫn Hội thảo của nhà nghiên cứu Hoàng Chương đã nêu những bất cập từ nhận thức của cơ quan lãnh đạo, quản lý đến khó khăn do thiếu kịch bản. Ông chỉ ra nguy cơ đánh mất bản sắc chèo từ chính những người nghệ sĩ.
"… tôi đã phát hiện ra một số chỗ trong âm nhạc và ca hát chưa thật là chèo, sở dĩ còn những chỗ chưa chèo vì một số diễn viên nhiều năm đã diễn theo hình thức “chèo mới” với lối “hát lồng” đã đi xa dần với truyền thống. Một số nhạc công chuyển sang chơi các nhạc cụ hiện đại như ghi-ta điện, organ.quên dần bài bản chèo cổ. Nhìn chung sân khấu chèo gần đây mất bản sắc, mất đặc trưng độc đáo của nó” [54, tr. Bài “Nói và làm” [54, tr.20] của tác giả Hà Văn Cầu đã nêu bất cập trong sử dụng cán bộ quản lý đơn vị nghệ thuật chèo ở một số địa phương: chưa thực sự hiểu biết và tâm huyết với chèo nên họ không những không bảo vệ chèo theo đúng nghĩa, mà còn làm cho chèo bị mất bản sắc.
Với tiêu đề “Chèo sẽ chấn hưng như thế nào trong cơ chế cạnh tranh nghệ thuật hiện nay” [54, tr.35], tác giả Quách Vinh chỉ ra, trong quá trình hội nhập, nghệ thuật chèo cần phải biến đổi uyển chuyển, nhưng dẫu phát triển như thế nào thì vẫn phải là chèo, phải giữ được cái hồn, cái cốt lõi chèo; cần phải tổ chức các phường chèo, hội chèo ở địa phương, xem đó như là “chân rết” của nền chèo, góp phần đưa chèo đến với quần chúng, đồng thời là nguồn bổ sung diễn viên cho các đơn vị nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ với công trình “Truyền thống và cách tân chèo mấy năm gần đây” đã cho thấy thực trạng cách tân chèo trong mấy 20 chục năm qua luôn đi cùng một nguy cơ đang thành hiện thực là không ít sáng tác mới đã vô tình đánh mất bản sắc chèo [54, tr. Ông nhấn mạnh: “Vẫn biết, các tác giả có thể cải biên, phóng tác những vở uyền thống tùy tài năng và sở thích cá nhân. Nhưng dẫu thế nào, cũng phải bảo tồn vốn đúng như nó vốn có để lớp trẻ bây giờ và mai sau không lầm lẫn những giá trị của tổ tiên” [54, tr.
Công trình “Bàn về thực trạng ngành chèo và hướng giải quyết trong thời gian tới” [54, tr.54] của Bùi Đức Hạnh cho rằng, chèo phát triển phải dựa trên hai nguyên tắc: phù hợp với thẩm mỹ đời sống và giữ được bản sắc chèo cổ [54, tr. Đối với việc bảo tồn, lưu giữ thì càng cần phải đảm bảo sự nguyên vẹn không pha tạp, không có sự can thiệp của bàn tay chuyên nghiệp.Với các trích đoạn và vở truyền thống chọn lọc để giới thiệu với khán giả hôm nay, nên có sự chuyên nghiệp, đáp ứng thẩm mỹ thưởng thức của khán giả đương thời. Đối với vở diễn phát triển chèo, cần có thái độ rộng rãi, không quá khắt khe. Điều cốt lõi là dù thay đổi thế nào cũng không đánh mất bản sắc riêng biệt, độc đáo của chèo cổ.
Bài viết đồng thời là câu hỏi: “Bảo tồn nghệ thuật chèo như thế nào trong cơ chế mới?