Luận án tiến sĩ quản lý văn hoá quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại thành phố hải phòng trong giai đoạn hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng, đề xuất giải pháp phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay.

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

224
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Luận án tiến sĩ tập trung vào việc quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng, một loại hình nghệ thuật truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Phần tổng quan tình hình nghiên cứu đã hệ thống hóa các công trình liên quan đến nghệ thuật chèo và quản lý hoạt động nghệ thuật. Cơ sở lý luận được xây dựng dựa trên các khái niệm cơ bản về quản lý văn hóa và bảo tồn nghệ thuật truyền thống. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chèo trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án đã tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu về nghệ thuật chèo và quản lý hoạt động nghệ thuật. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào giá trị nghệ thuật và lịch sử của chèo, nhưng chưa đi sâu vào vấn đề quản lý hiện đại. Luận án chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế thị trường.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghệ thuật chèo

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm về quản lý văn hóa và bảo tồn nghệ thuật truyền thống. Các lý thuyết về quản lý nhà nước và phát triển nghệ thuật được áp dụng để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển để nghệ thuật chèo có thể tồn tại và phát triển trong xã hội hiện đại.

II. Thực trạng quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng

Luận án phân tích thực trạng quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng, bao gồm các chủ thể quản lý, chính sách và hoạt động cụ thể. Các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành và phát triển nghệ thuật chèo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện các chính sách và cơ chế phối hợp.

2.1. Chủ thể quản lý và chính sách

Luận án chỉ ra rằng các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo. Tuy nhiên, các chính sách và cơ chế phối hợp chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao. Cần có sự điều chỉnh và cải tiến trong việc thực hiện các chính sách để đạt được mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chèo.

2.2. Hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng

Luận án đánh giá các hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng, bao gồm biểu diễn, bảo tồn và phát triển. Các đoàn chèo chuyên nghiệp và không chuyên đã có nhiều đóng góp trong việc duy trì và phát huy giá trị nghệ thuật chèo. Tuy nhiên, sự thiếu hụt khán giả và nguồn lực tài chính là những thách thức lớn cần được giải quyết.

III. Giải pháp quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng

Luận án đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng, bao gồm việc cải thiện cơ chế quản lý, tăng cường nguồn lực và thu hút khán giả. Các giải pháp được xây dựng dựa trên phân tích thực trạng và kinh nghiệm từ các địa phương khác. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển để nghệ thuật chèo có thể tồn tại và phát triển trong xã hội hiện đại.

3.1. Cải thiện cơ chế quản lý

Luận án đề xuất việc cải thiện cơ chế quản lý thông qua việc tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị nghệ thuật. Cần có sự điều chỉnh trong các chính sách và cơ chế tài chính để hỗ trợ tốt hơn cho các hoạt động nghệ thuật chèo.

3.2. Tăng cường nguồn lực và thu hút khán giả

Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường nguồn lực tài chính và nhân lực cho các hoạt động nghệ thuật chèo. Đồng thời, cần có các chiến lược tiếp thị và quảng bá hiệu quả để thu hút khán giả, đặc biệt là giới trẻ, đến với nghệ thuật chèo.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quản lý văn hoá quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại thành phố hải phòng trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I - Yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong quá trình hình thành và phát triển của kịch bản chèo; chương II - Sự kết hợp giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong kịch bản chèo; chương III - Vấn đề kết hợp yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong kịch bản Chèo mới. Dựa trên các kịch bản chèo đưa linh, huyết hồ phú, huyết hồ trò, Từ Thức, Phan Trần, Quan Âm Thị Kính. tác giả đã nghiên cứu yếu tố dân gian trong chèo và rút ra kết luận về sự phát triển của chèo trong giai 16 đoạn sơ khai. Tác giả đã đi sâu vào phân tích sự kết hợp giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong tổ chức kết cấu kịch bản, trong xây dựng nhân vật, trong văn học.

Đồng thời chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học như là mối quan hệ tất yếu, góp phần làm nên giá trị nghệ thuật chèo. Ngoài công trình này, Trần Đình Ngôn còn có một số công trình nghiên cứu lý luận về chèo như: Đường trường phải chiều (1993) Đường trường chông chênh (1997), tiêu biểu trong số đó là công trình Nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật chèo, Nxb Sân khấu, Hà Nội, (2005). Đây là một trong số ít công trình đã tổng kết và đưa ra hệ thống lý luận về phương pháp nghệ thuật chèo. Tác giả Tất Thắng cũng là nhà nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật sân khấu, trong đó có chèo.

Bên cạnh hàng loạt các công trình nghiên cứu về sân khấu truyền thống nói chung, ông có công trình đáng chú ý là Nghệ thuật Chèo – nhận thức từ một phía (2007), Nxb Văn học, Hà Nội [71]. Nhà nghiên cứu Trần Trí Trắc cũng có nhiều nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu, trong đó có các bài viết về nghệ thuật chèo, như cuốn Sân khấu và nghệ sĩ sáng tạo (Phê bình và tiểu luận) [74], Chèo Cách mạng [75]. Cho đến nay, dù chưa tài liệu nào khẳng định chính xác thời điểm ra đời của nghệ thuật chèo, nhưng có thể thấy, từ thời văn nghệ dân gian xa xưa, người nông dân Việt vùng châu thổ sông Hồng đã tổ chức lễ hội nông nghiệp cổ truyền (hội làng“xuân thu nhị kì", "đến hẹn lại lên”) vào những dịp nông nhàn của hai vụ lúa xuân và thu, tại các lễ hội này đã hiện diện nghi lễ diễn xưởng dân gian - tiền đề hình thành nghệ thuật chèo. Rồi dần phát triển thành những vở chèo cổ với đầy đủ tích diễn và trò diễn của những phường chèo, lưu diễn làng này sang làng khác, theo phương thức phường gánh cổ truyền.

Đến thời kỳ cận đại, đặc biệt là vào giai đoạn từ cuối thế kỷ 17 XVIII đến thế kỷ XIX, nghệ thuật tuồng, chèo đã trở thành hiện tượng văn hóa độc đáo, có ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần của người nông dân châu thổ Bắc Bộ. Bởi chèo vốn thấm đẫm màu sắc dân gian của sân khấu chân quê, đầy tiếng cười hài hước của hề chèo và là nghệ thuật lưu dấu nhiều giá trị bản sắc của văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Trong diễn trình lịch sử dân tộc, từng có thời kỳ nghệ thuật sân khấu nói chung, nghệ thuật chèo nói riêng bị nhà nước phong kiến miệt thị, bạc đãi. Mang thân phận con hát, “xướng ca vô loại”, người nghệ sĩ chèo không được xếp vào thứ hạng nào trong xã hội, nhưng nghệ thuật chèo vẫn sống, chèo vẫn được bao thế hệ người Việt nâng niu, đùm bọc.

Bởi lẽ chèo là một loại hình nghệ thuật được sinh ra từ văn hóa dân gian, là tiếng nói, niềm vui của người dân quê lao động. Trảỉ qua thăng trầm cùng lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt, chèo đã thành một loại hình sân khấu mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, được tồn tại với công chúng hiện đại cho đến hôm nay và không chỉ hôm nay. Nghiên cứu về bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo Bên cạnh công trình về lịch sử nghệ thuật chèo, đã xuất hiện công trình, bài viết định hướng phát triển và giải pháp bảo tồn nghệ thuật chèo: Tác giả Trần Bảng đã viết loạt bài nghiên cứu sâu về chèo, tập hợp lại thành cuốn Chèo - một hiện tượng sân khấu dân tộc [4], được Viện Sân khấu tái bản với tên sách là Khái luận về chèo. Trần Bảng đưa yêu cầu với người làm chèo trước hết phải nắm vững “chất chèo”, cũng có nghĩa là nắm được đặc trưng cấu trúc của chèo.

Theo ông, vở chèo mới dù viết về đề tài gì nhưng nếu biết tiếp nối cách cấu trúc chèo truyền thống, biết xây dựng, xử lý và chuyển hoá mô hình truyền thống thì đều được khán giả công nhận là có chất chèo. Trái lại “mọi ý đồ “nâng cao” nghệ thuật chèo thành những loại nhạc kịch, tiểu ca kịch, vũ kịch phương Tây đều dẫn đến kết quả là lấy cấu trúc của một kịch chủng ngoại lai thay thế cho cấu trúc chèo và từ đó làm mất đi 18 cái riêng biệt của nó” [5, tr. Trần Bảng còn có tác phẩm Trần Bảng, đạo diễn chèo [6]. Trong đó, Trần Bảng thẳng thắn chỉ ra ngộ nhận, sai lầm của mình và nhiều nhà làm chèo đã từng tiếp nhận khuynh hướng tả thực của sân khấu phương Tây, coi đó là yếu tố văn minh tiến bộ, mà cải cách tuồng, chèo.

Ông cho rằng, hơn nửa thế kỷ qua, quan điểm sai lầm này luôn là một trở ngại lớn trên đường phục hồi và phát triển sân khấu truyền thống. Ông nhấn mạnh: “Sở dĩ phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần điều này là để những người làm chèo nhất là lớp nghệ sĩ trẻ một lần nữa nhận thức rõ sự thật, quyết tâm tự giải thoát mình khỏi sự ràng buộc đầy tính nghịch lý này” [6, tr. Trong thực tế dàn dựng, có thể thấy Trần Bảng đã thực thi một cách đạo diễn xuất sắc đối với vở chèo cổ “Quan Âm Thị Kính”. Trong nửa thế kỉ hành nghề, Trần Bảng đã ba lần thay đổi mô hình thẩm mỹ vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính.

Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái đã có bài phân tích "Ba lần thay đổi mô hình thẩm mỹ vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính" [69, tr.22] của đạo diễn Trần Bảng. Tác giả cho rằng, bằng tư duy chèo có phương pháp căn cơ chèo và "một trái tim say đắm với nghệ thuật chèo", đạo diễn Trần Bảng đã tạo nên một vở diễn xuất sắc, góp phần đáng kể trong việc giữ gìn và "làm sáng giá" cho nghệ thuật chèo Việt Nam. Tác giả cũng cho rằng:. Chỉ có tư duy chèo thật truyền thống (với nhận thức đầy đủ về bản chất ngôn ngữ nghệ thuật, nguyên tắc mỹ học đặc thù của chèo) và tư duy đó lại phải thật hiện đại về phương pháp, mới có thể "giải cứu" sân khấu chèo thoát khỏi tình trạng "bạc phai chất thơ nguyên chất" và sự khủng hoảng người xem đã rất nhãn tiền hôm nay.

Vào giai đoạn từ những năm 1990, nghệ thuật chèo đối mặt với những khó khăn thách thức như: thiếu kịch bản, đạo diễn, diễn viên, sân khấu vắng 19 khách, đặc biệt là sự khủng hoảng về đường hướng phát triển. Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức Hội thảo Thực trạng chèo hôm nay. Tại Hội thảo có nhiều bài viết phân tích thực trạng nghệ thuật chèo trong đời sống và đề xuất những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật chèo: Lời đề dẫn Hội thảo của nhà nghiên cứu Hoàng Chương đã nêu những bất cập từ nhận thức của cơ quan lãnh đạo, quản lý đến khó khăn do thiếu kịch bản. Ông chỉ ra nguy cơ đánh mất bản sắc chèo từ chính những người nghệ sĩ.

"… tôi đã phát hiện ra một số chỗ trong âm nhạc và ca hát chưa thật là chèo, sở dĩ còn những chỗ chưa chèo vì một số diễn viên nhiều năm đã diễn theo hình thức “chèo mới” với lối “hát lồng” đã đi xa dần với truyền thống. Một số nhạc công chuyển sang chơi các nhạc cụ hiện đại như ghi-ta điện, organ.quên dần bài bản chèo cổ. Nhìn chung sân khấu chèo gần đây mất bản sắc, mất đặc trưng độc đáo của nó” [54, tr. Bài “Nói và làm” [54, tr.20] của tác giả Hà Văn Cầu đã nêu bất cập trong sử dụng cán bộ quản lý đơn vị nghệ thuật chèo ở một số địa phương: chưa thực sự hiểu biết và tâm huyết với chèo nên họ không những không bảo vệ chèo theo đúng nghĩa, mà còn làm cho chèo bị mất bản sắc.

Với tiêu đề “Chèo sẽ chấn hưng như thế nào trong cơ chế cạnh tranh nghệ thuật hiện nay” [54, tr.35], tác giả Quách Vinh chỉ ra, trong quá trình hội nhập, nghệ thuật chèo cần phải biến đổi uyển chuyển, nhưng dẫu phát triển như thế nào thì vẫn phải là chèo, phải giữ được cái hồn, cái cốt lõi chèo; cần phải tổ chức các phường chèo, hội chèo ở địa phương, xem đó như là “chân rết” của nền chèo, góp phần đưa chèo đến với quần chúng, đồng thời là nguồn bổ sung diễn viên cho các đơn vị nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ với công trình “Truyền thống và cách tân chèo mấy năm gần đây” đã cho thấy thực trạng cách tân chèo trong mấy 20 chục năm qua luôn đi cùng một nguy cơ đang thành hiện thực là không ít sáng tác mới đã vô tình đánh mất bản sắc chèo [54, tr. Ông nhấn mạnh: “Vẫn biết, các tác giả có thể cải biên, phóng tác những vở uyền thống tùy tài năng và sở thích cá nhân. Nhưng dẫu thế nào, cũng phải bảo tồn vốn đúng như nó vốn có để lớp trẻ bây giờ và mai sau không lầm lẫn những giá trị của tổ tiên” [54, tr.

Công trình “Bàn về thực trạng ngành chèo và hướng giải quyết trong thời gian tới” [54, tr.54] của Bùi Đức Hạnh cho rằng, chèo phát triển phải dựa trên hai nguyên tắc: phù hợp với thẩm mỹ đời sống và giữ được bản sắc chèo cổ [54, tr. Đối với việc bảo tồn, lưu giữ thì càng cần phải đảm bảo sự nguyên vẹn không pha tạp, không có sự can thiệp của bàn tay chuyên nghiệp.Với các trích đoạn và vở truyền thống chọn lọc để giới thiệu với khán giả hôm nay, nên có sự chuyên nghiệp, đáp ứng thẩm mỹ thưởng thức của khán giả đương thời. Đối với vở diễn phát triển chèo, cần có thái độ rộng rãi, không quá khắt khe. Điều cốt lõi là dù thay đổi thế nào cũng không đánh mất bản sắc riêng biệt, độc đáo của chèo cổ.

Bài viết đồng thời là câu hỏi: “Bảo tồn nghệ thuật chèo như thế nào trong cơ chế mới?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Quản lý hoạt động nghệ thuật chèo tại Hải Phòng hiện nay là một nghiên cứu chuyên sâu về việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo, một loại hình văn hóa truyền thống đặc sắc của Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng quản lý hoạt động chèo tại Hải Phòng mà còn đề xuất các giải pháp hiệu quả để nâng cao giá trị văn hóa này trong bối cảnh hiện đại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của chèo trong đời sống văn hóa địa phương và cách thức để bảo tồn di sản này một cách bền vững.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về quản lý văn hóa và di sản, hãy khám phá Luận án tiến sĩ quản lý văn hóa di sản hóa tín ngưỡng thờ cúng hùng vương ở phú thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan, hoặc Khóa luận tốt nghiệp quản lý văn hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa keo tại huyện vũ thư tỉnh thái bình. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ quản lý văn hóa quản lý các bảo tàng ngoài công lập ở việt nam cũng là một tài liệu hữu ích để mở rộng kiến thức về quản lý văn hóa. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đi sâu hơn vào các chủ đề liên quan, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.