Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Duyên (ngành Quản lý văn hóa, Khoa Quản lý xã hội, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, năm 2022) lựa chọn nghiên cứu đề tài "Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình" xuất phát từ các yêu cầu cấp bách trong công tác quản lý di sản văn hóa tại địa phương.
Về bối cảnh thực tiễn, Việt Nam hiện có hơn 41.000 di tích, thắng cảnh; trong đó hơn 4.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và hơn 9.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Vùng đồng bằng sông Hồng tập trung mật độ di tích dày đặc nhất cả nước, chiếm 56% số di tích quốc gia và 46% tổng số di tích toàn quốc. Tại tỉnh Thái Bình, Chùa Keo (tên chữ là Thần Quang Tự, tọa lạc tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư) là công trình kiến trúc nghệ thuật cổ bằng gỗ lim có niên đại gần 400 năm, được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012 và lễ hội Chùa Keo được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017. Tuy nhiên, cùng với áp lực của quá trình đô thị hóa từ những năm 2000, di tích từng xảy ra hiện tượng xâm lấn khuôn viên, các bất cập trong quản lý lễ hội, kinh doanh hàng quán lộn xộn và sự xung đột giữa mục tiêu bảo tồn nguyên trạng với yêu cầu khai thác phát triển du lịch, đặc biệt trong giai đoạn ngành du lịch chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Nghiên cứu, tìm hiểu di tích Chùa Keo – Thái Bình nhằm hệ thống hóa tổng quan hệ giá trị lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và kiến trúc của công trình; khảo sát hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích để tạo cơ sở định hướng khai thác kinh tế và du lịch bền vững.
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các định hướng và biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 3 nội dung:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích cổ.
- Khảo sát và phân tích thực trạng công tác quản lý, tu bổ, tôn tạo và tổ chức lễ hội tại di tích Chùa Keo – Thái Bình.
- Đánh giá những tồn tại trong quản lý thực tế và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích Chùa Keo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo – Thái Bình.
- Phạm vi không gian: Khu di tích Chùa Keo, thôn Hành Dũng Nghĩa, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi thời gian: Khai thác và xử lý các số liệu quản lý, khảo sát thực tế từ năm 2019 trở về trước.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào tổ chức bộ máy quản lý, hiện trạng cơ sở vật chất, hoạt động trùng tu kiến trúc gỗ cổ, công tác quản lý lễ hội truyền thống và phương án quy hoạch tổng thể di tích.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm công cụ dựa trên Luật Di sản văn hóa và các giáo trình chuyên ngành:
- Di tích lịch sử - văn hóa: Được định nghĩa theo Luật Di sản văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Bảo tồn di tích: Được xác định là các hành vi nhằm giữ gìn, bảo vệ sự tồn tại của di tích theo dạng thức vốn có, không để bị mai một, biến dạng hay thay đổi yếu tố gốc cấu thành.
- Phát huy giá trị di tích: Là việc đưa các giá trị di sản vào thực tiễn xã hội, khai thác tiềm năng nội lực nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân, đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương thông qua du lịch bền vững.
- Mối quan hệ bảo tồn và phát triển: Khẳng định di tích là nguồn tài nguyên văn hóa không thể tái sinh, do đó hoạt động khai thác kinh tế không được làm xâm phạm đến tính toàn vẹn và tính xác thực của di tích.
Khung pháp lý và cơ sở chính sách được viện dẫn gồm:
- Văn bản của Đảng: Nghị quyết số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998 (Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về giải quyết hài hòa giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế - xã hội.
- Văn bản của Nhà nước: Pháp lệnh số 14 LCT/HĐNN ngày 04/04/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10; Thông tư số 09/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 quy định hồ sơ khoa học xếp hạng di tích; Quyết định số 1587/QĐ-TTg ngày 13/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo; Quyết định số 2319/QĐ-UBND (11/6/2019) và Chỉ thị số 12/CT-UBND (27/6/2019) của UBND tỉnh Thái Bình về tăng cường quản lý nhà nước đối với di tích và văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp 4 phương pháp chính:
- Phương pháp khảo sát thực tế: Nhóm đề tài trực tiếp khảo sát thực địa tại khuôn viên Chùa Keo để đánh giá kỹ thuật kiến trúc, hạ tầng phụ trợ và quy trình tổ chức lễ hội.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập, đối chiếu dữ liệu từ sách chuyên khảo quốc tế (công trình của Jukka Jokilehto năm 1999, Aylin Orbasli năm 2008, Jigna Desai năm 2019), các báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tỉnh Thái Bình, văn bản pháp quy và bài báo khoa học chuyên ngành.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiếp xúc, phỏng vấn nhân dân và người cao tuổi sinh sống quanh khu vực di tích Chùa Keo về lịch sử biến động và tập quán sinh hoạt lễ hội.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thu thập, kiểm tra chéo ý kiến chuyên môn của cán bộ quản lý di sản và nhà nghiên cứu văn hóa.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CHÙA KEO THÁI BÌNH
Chương 1 hệ thống hóa lý luận cơ bản, lược sử hành chính vùng đất Thái Bình và lịch sử hình thành di tích Chùa Keo.
- Về địa chí: Vùng đất Thái Bình trước thế kỷ X thuộc hương Đa Cương, quận Giao Chỉ; thời Hậu Lê thuộc trấn Sơn Nam, sau thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Ngày 21/3/1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình. Địa bàn huyện Vũ Thư được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai huyện Thư Trì và Vũ Tiên theo Quyết định số 93/CP ngày 17/6/1969 của Hội đồng Chính phủ.
- Nguồn gốc di tích Chùa Keo: Năm 1061 (niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 3, đời Lý Thánh Tông), Thiền sư Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại ven sông Hồng thuộc hương Giao Thủy (phủ Hà Thanh, nay thuộc tỉnh Nam Định). Năm 1167 (đời Lý Anh Tông), chùa đổi tên thành Thần Quang Tự. Năm 1611, lũ lớn cuốn trôi chùa cũ. Dân cư chia làm hai bộ phận: một bộ phận lập làng Hành Thiện dựng chùa Keo Hạ (Xuân Trường, Nam Định); một bộ phận dời sang tả ngạn sông Hồng lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình, vận động xây dựng chùa Keo Thượng. Dưới sự vận động của bà Lại Thị Ngọc Lễ và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ, công trình được Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ vẽ kiểu, khởi công năm 1630 và khánh thành năm 1632.
| Hạng mục kiến trúc |
Quy mô và thông số kỹ thuật |
Đặc điểm nghệ thuật, hiện vật |
| Khuôn viên tổng thể |
Diện tích khoảng 58.000 m² |
Gồm 17 công trình, 128 gian kết cấu theo kiểu "Nội công ngoại quốc", vật liệu chính là gỗ lim chạm khắc tinh xảo. |
| Tam quan |
Cột cờ gỗ chò cao 25 m; Tam quan nội |
Bộ cánh cửa Tam quan nội cao 2 m, rộng 2,6 m, chạm khắc ổ rồng chầu mặt nguyệt mang phong cách điêu khắc thời Hậu Lê. |
| Khu thờ Phật |
Gồm Chùa Hộ, Ống Muống và Phật điện |
Lưu giữ gần 100 pho tượng; tiêu biểu có tượng Thích Ca nhập Niết bàn, tượng Quan Âm Chuẩn Đề. |
| Khu thờ Thánh |
Gồm 4 tòa: Giá Roi, Thiêu Hương, Phục Quốc, Thượng Điện |
Toà Thượng Điện lưu giữ pho tượng Thiền sư Dương Không Lộ bằng gỗ trầm hương ngót nghìn năm tuổi; ngoài sân có giếng đá xếp từ cối đá thủng giã gạo nuôi thợ. |
| Gác chuông |
Cao 11,04 m, 3 tầng mái |
Nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong, kết cấu gần 100 đàn đầu voi. Tầng 1 treo khánh đá cao 1,20 m; tầng 2 có chuông đồng đúc năm 1686 (cao 1,30 m, đường kính 1 m); tầng 3 và thượng treo 2 chuông nhỏ đúc năm 1796 (cao 0,62 m, đường kính 0,69 m). |
- Lễ hội Chùa Keo: Tổ chức mỗi năm hai kỳ: Hội xuân diễn ra ngày mùng 4 tháng Giêng Âm lịch; Hội thu diễn ra từ ngày 13 đến 15 tháng 9 Âm lịch (hội chính, kỷ niệm ngày Thiền sư Không Lộ viên tịch vào ngày 3/6 Âm lịch). Lễ hội bảo lưu nghi thức rước kiệu, thi diễn xướng lục cúng (hương, đăng, hoa, trà, quả, thực).
- Vai trò truyền bá tín ngưỡng: Chùa Keo là trung tâm tích hợp Phật giáo dân gian theo mô hình "tiền Phật, hậu Thánh", gắn với các nhân vật Phật giáo lịch sử trên đất Thái Bình (Võ Ngại thượng nhân, Đinh La Quý, Đỗ Pháp Thuận, Đỗ Đô).
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN CHÙA KEO – THÁI BÌNH
Chương 2 phản ánh số liệu thực tế về công tác quản lý di tích trên địa bàn tỉnh và hoạt động bảo tồn tại Chùa Keo:
- Số liệu kiểm kê di tích tỉnh Thái Bình: Tính đến hết năm 2020, toàn tỉnh có 2.969 di tích. Trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt (Chùa Keo và Khu di tích Đền Trần), 114 di tích quốc gia, 550 di tích cấp tỉnh và 2.138 di tích trong danh mục kiểm kê. Về phân loại thiết chế, tỉnh có 731 đình, 425 đền, 425 miếu, 869 chùa, 401 từ đường, 21 địa điểm lịch sử và 97 di tích thuộc loại hình khác (trải qua 4 đợt tổng kiểm kê vào các năm 1962, 1977, 2007, 2014).
- Bộ máy quản lý: Thực hiện Quyết định số 2319/QĐ-UBND và Chỉ thị số 12/CT-UBND của UBND tỉnh, công tác quản lý di tích được phân cấp rõ rệt. Ban Quản lý di tích Chùa Keo có tư cách pháp nhân độc lập, con dấu riêng và tài khoản tại Kho bạc Nhà nước (Mã số thuế: 1000766533; người đại diện pháp luật là ông Bùi Văn Thương).
| Tiêu chí phân vùng |
Diện tích |
Phạm vi ranh giới theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg |
| Khu vực bảo vệ I |
2,70 ha |
Khu vực bất khả xâm phạm, bảo vệ nguyên trạng các công trình kiến trúc gốc của Chùa Keo. |
| Khu vực bảo vệ II |
1,48 ha |
Vùng đệm bao quanh khu vực I nhằm bảo vệ cảnh quan và hỗ trợ bảo tồn. |
| Vùng đất mở rộng |
9,32 ha |
Mở rộng về phía Đông và Đông Bắc thuộc địa phận xã Duy Nhất và xã Vũ Tiến. |
| Tổng phạm vi quy hoạch |
13,50 ha |
Phía Bắc giáp ruộng lúa xã Vũ Tiến; phía Nam giáp đê Tả Hồng (tỉnh lộ 463) và khu dân cư làng Keo; phía Đông giáp khu thương mại dịch vụ và tái định cư; phía Tây giáp dân cư làng Keo và đất lúa xã Vũ Tiến. |
- Thực trạng tu bổ, bảo quản: Công trình trải qua hai đợt trùng tu lớn: đợt trùng tu năm 1941 với sự hỗ trợ kỹ thuật của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO), và đợt đại trùng tu cấp nhà nước kéo dài 5 năm (1999–2004) với tổng kinh phí hỗ trợ 19 tỉ đồng. Kinh phí này tập trung xử lý hệ thống kiến trúc nội thất và khung gỗ lim.
- Nguồn lực xã hội hóa: Nguồn tiền công đức thập phương đạt trên 2 tỉ đồng/năm. Nguồn kinh phí này được Ban quản lý công khai, minh bạch để đầu tư xây dựng các hạng mục phụ trợ ngoài khu vực bảo vệ gốc như bãi đỗ xe, nhà vệ sinh đạt chuẩn và khu bán hàng lưu niệm. Công tác quản lý trật tự lễ hội đã khắc phục cơ bản hiện tượng chèo kéo, trộm cắp và mê tín dị đoan.
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CHÙA KEO THÁI BÌNH
Dựa trên cấu trúc mục lục và các bất cập được chỉ ra ở chương 2, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:
- Giải pháp về quản lý và đào tạo nhân sự: Kiện toàn bộ máy Ban quản lý di tích Chùa Keo, tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp lý và chuyên môn bảo tồn di sản văn hóa cho đội ngũ cán bộ cơ sở; nâng cao năng lực thanh tra, giám sát nhằm ngăn ngừa sai phạm trong quá trình tu bổ.
- Giải pháp bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích:
- Bảo quản định kỳ: Áp dụng quy chuẩn kỹ thuật xử lý mối mọt, kiểm soát độ ẩm và phòng chống cháy nổ đối với công trình kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ lim.
- Tu bổ, phục hồi: Nghiêm ngặt tuân thủ nguyên tắc bảo tồn yếu tố gốc; mọi hoạt động can thiệp phải có sự thỏa thuận chuyên môn của Sở VHTTDL và Bộ VHTTDL, tránh tự ý sửa chữa làm biến dạng di tích.
- Nghi lễ truyền thống: Tiếp tục nghiên cứu, khôi phục đầy đủ các nghi thức tế lễ, diễn xướng dân gian gắn liền với Lễ hội Chùa Keo.
- Công tác quy hoạch giữa bảo tồn và phát triển du lịch: Triển khai đúng các phân kỳ đầu tư theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg; hoàn thành cắm mốc giới khoanh vùng bảo vệ; phân tách rõ ràng không gian văn hóa tâm linh thanh tịnh với khu vực dịch vụ thương mại.
- Giải pháp thu hút cộng đồng địa phương: Tạo cơ chế sinh kế bền vững cho người dân địa phương tham gia cung ứng dịch vụ du lịch văn minh; tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ di tích và giám sát cộng đồng đối với các hoạt động trùng tu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu xác thực:
- Tổng hợp toàn diện hồ sơ kỹ thuật và hiện vật của di tích Chùa Keo: xác định quy mô 17 công trình, 128 gian bằng gỗ lim trên diện tích 58.000 m²; lưu giữ tượng Thượng Điện bằng gỗ trầm hương, Gác chuông cao 11,04 m với gần 100 đàn đầu voi và hệ thống chuông đồng niên đại 1686, 1796.
- Làm rõ cấu trúc phân cấp quản lý di tích tỉnh Thái Bình với số liệu thống kê chi tiết 2.969 di tích tính đến hết năm 2020; xác lập địa vị pháp lý độc lập của Ban Quản lý di tích Chùa Keo.
- Trình bày thông số kỹ thuật đề án Quy hoạch tổng thể di tích theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg với quy mô nghiên cứu 13,5 ha, làm cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng phân vùng bảo vệ.
- Đóng góp thực tiễn: Khóa luận chỉ ra thực tế nguồn vốn đầu tư trùng tu 19 tỉ đồng (1999–2004) mới chỉ đáp ứng khu vực lõi, khẳng định tính hiệu quả của mô hình xã hội hóa từ nguồn công đức trên 2 tỉ đồng/năm để hoàn thiện hạ tầng phụ trợ mà không xâm hại yếu tố gốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát số liệu thực tế từ năm 2019 trở về trước; nghiên cứu được hoàn thành trong bối cảnh các hoạt động du lịch và lễ hội văn hóa đang chịu sự đình trệ bởi đại dịch Covid-19, do đó chưa khảo sát trực tiếp được biến động kinh tế du lịch giai đoạn phục hồi bình thường mới.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi tiến độ triển khai thực tế 6 nhóm dự án thành phần theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đánh giá định lượng tác động kinh tế - xã hội của du lịch cộng đồng tại xã Duy Nhất; nghiên cứu khả năng liên kết tuyến du lịch tâm linh liên tỉnh dọc sông Hồng giữa di tích Chùa Keo Thái Bình và Chùa Keo Hành Thiện (Nam Định).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Quản lý di sản và Du lịch tham khảo phương pháp tiếp cận quản lý di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia đặc biệt.
- Ban Quản lý di tích Chùa Keo và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Vũ Thư khai thác cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch quản lý lễ hội, kiểm soát không gian quy hoạch dịch vụ phụ trợ.
- Các nhà nghiên cứu kiến trúc cổ truyền tham khảo hệ thống số liệu mô tả cấu trúc mộng gỗ, hệ thống đàn đầu voi gác chuông và các niên đại đúc chuông đồng thời Hậu Lê.
Câu hỏi thường gặp
1. Chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư được khởi công xây dựng và hoàn thành vào năm nào?
Công trình Chùa Keo (Keo Thượng) được bắt đầu khởi công xây dựng từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 dưới thời Hậu Lê, do Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ vẽ kiểu, nhờ sự vận động quyên góp của bà Lại Thị Ngọc Lễ và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ.
2. Kiến trúc Gác chuông Chùa Keo có thông số kỹ thuật và chuông đồng như thế nào?
Gác chuông Chùa Keo cao 11,04 m, kết cấu 3 tầng mái bằng mộng gỗ nâng đỡ 12 mái ngói đao loan, khung mái có gần 100 đàn đầu voi. Tầng 1 treo khánh đá cao 1,20 m; tầng 2 treo quả chuông đồng đúc năm 1686 cao 1,30 m, đường kính 1 m; tầng 3 và tầng thượng treo hai quả chuông nhỏ đúc năm 1796 cao 0,62 m, đường kính 0,69 m.
3. Đề án Quy hoạch tổng thể di tích Chùa Keo theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy mô bao nhiêu hecta?
Tổng phạm vi quy hoạch là 13,5 ha; bao gồm khu vực bảo vệ I là 2,7 ha, khu vực bảo vệ II là 1,48 ha (tổng diện tích khu I và II là 4,18 ha) và phần đất mở rộng về phía Đông và Đông Bắc thuộc xã Duy Nhất và xã Vũ Tiến là 9,32 ha.
4. Đợt đại trùng tu cấp nhà nước tại Chùa Keo giai đoạn 1999–2004 được đầu tư kinh phí bao nhiêu và sử dụng cho các hạng mục nào?
Đợt đại trùng tu giai đoạn 1999–2004 được Nhà nước hỗ trợ kinh phí 19 tỉ đồng. Nguồn kinh phí này kết hợp với tiền công đức được tập trung sửa chữa, tu bổ khu vực trong chùa và nội thất kiến trúc gỗ lim, chưa đủ để xây dựng các công trình phụ trợ bên ngoài.
5. Lễ hội chính của Chùa Keo diễn ra vào thời gian nào và có ý nghĩa gì?
Lễ hội chính của Chùa Keo diễn ra vào mùa thu, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 9 Âm lịch hàng năm (sau hội xuân mùng 4 tháng Giêng 9 tháng). Đây là dịp kỷ niệm ngày Thiền sư Không Lộ (người sáng lập chùa Nghiêm Quang) viên tịch vào ngày 3 tháng 6 Âm lịch.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Duyên đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di sản, đồng thời phản ánh chi tiết thực trạng bảo tồn tại di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo tỉnh Thái Bình. Công trình đã phân tích chuẩn xác các thông số kỹ thuật kiến trúc gỗ thời Lê, hiện trạng bộ máy tổ chức, quy mô đồ án quy hoạch tổng thể 13,5 ha và cơ chế sử dụng nguồn lực công đức xã hội hóa hơn 2 tỉ đồng/năm. Các nhóm giải pháp đề xuất về tu bổ kỹ thuật, cắm mốc quy hoạch và phát triển du lịch cộng đồng cung cấp những luận cứ thực tiễn thiết thực cho công tác quản lý di sản văn hóa tại địa phương.