phần mở đầu (3 trang), kết luận (3 trang), danh mục tài liệu tham khảo (9 trang), phụ lục (20 trang), nội dung chính của luận văn gồm (77 trang) chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ vật gốm sứ và bảo tàng tƣ nhân (23 trang) Chƣơng 2: Thực trạng sƣu tập và các bộ sƣu tập cổ vật gốm sứ tƣ nhân tại Bình Dƣơng (23 trang) Chƣơng 3: Định hƣớng xây dựng và quản lý bảo tàng cổ vật gốm sứ tƣ nhân tại Bình Dƣơng (21 trang) 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Do nhu cầu không ngừng tăng cao về đời sống văn hóa, cùng với sự năng động chung của các tỉnh thành, trƣớc làn gió mở cửa theo cơ chế thị trƣờng, ngay từ những năm đầu thập niên 90, một số bảo tàng đã tìm cách tạo nguồn thu qua các dịch vụ (dịch vụ ăn uống, bán hàng lƣu niệm, bán các tập gấp giới thiệu về bảo tàng). Từ đơn vị sự nghiệp, các bảo tàng dần chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu. Hoạt động bảo tàng cũng bắt đầu chuyển động theo hƣớng tăng cƣờng giao lƣu, liên kết giũa các bảo tàng trong nƣớc, tổ chức trƣng bày chuyên đề. Tuy nhiên, với khả năng ngân sách địa phƣơng, vẫn khó có thể đầu tƣ đầy đủ cho bảo tàng; vì vậy, hoạt động của các bảo tàng thƣờng xuyên gặp khó khăn trong công tác sƣu tầm, trƣng bày và trong công tác bảo quản hiện vật do thiếu kinh phí.
Các nguồn thu đƣợc của bảo tàng lúc ấy, chủ yếu dùng vào việc chăm lo nâng cao thu nhập để giữ chân cán bộ nghiệp vụ bảo tàng. Nghị quyết 90/NQ-CP ra đời vào năm 1997 nhƣ một làn gió mới làm cho sự chuyển động vừa bắt đầu ấy chuyển mạnh hơn theo hƣớng mở rộng giao lƣu, hợp tác, liên kết, đẩy mạnh trƣng bày chuyên đề. Đến năm 2005, Chính phủ lại tiếp tục cho ra đời Nghị quyết 05/2005/NQ-CP, từ đó cho đến nay, hàng năm, từng bảo tàng đều có những hoạt động cụ thể nhằm thực hiện chủ trƣơng xã hội hóa làm cho hoạt động bảo tàng trở nên sinh động hơn, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa. Nghiên cứu mô hình bảo tàng tƣ nhân trong quá trình đô thị hóa, cần tìm hiểu các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng, dựa trên cơ sở phân tích các nhu cầu của đời sống văn hóa, vai trò của thiết chế văn hóa trong đời sống xã hội, các chủ trƣơng, chính sách của 13 Đảng, Nhà nƣớc về mô hình bảo tàng tƣ nhân cần đặt trong mối tƣơng quan với hệ thống các thiết chế văn hóa ở cơ sở, cũng nhƣ với sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa, để có thể đánh giá đúng đắn mức độ thành công và hiệu quả hoạt động của mô hình.
Các khái niệm và thuật ngữ liên quan Để phục vụ tốt cho việc triển khai đề tài học viên xác định nội dung và cách hiểu của một số khái niệm chính trong phạm vi nghiên cứu nhƣ sau: Theo Luật Di sản Văn hoá năm 2001: - “Di sản văn hóa vật thể”: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; - “Sưu tập”: là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, đƣợc thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội; - “Di vật”: là các hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; - “Cổ vật”: là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên; - “Bảo vật quốc gia”: là các hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nƣớc về lịch sử, văn hóa, khoa học. Nhƣ đã đề cập ở phần trên, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong các di tích lịch sử - văn hóa, gắn 14 liền với không gian bên trong của di tích. Thực tế có những di tích là những địa điểm gắn với thời kỳ dựng nƣớc và giữ nƣớc của ông cha ta lại mang đặc thù khác nhƣ một di tích khảo cổ học sau khi đã khai quật các hiện vật lại đƣợc đƣợc lƣu giữ, bảo quản ở một nơi khác không còn ở di tích. Trong khi đó ở các di tích đình, chùa, miếu, nhà thờ họ…, các di vật, cổ vật lại thƣờng là các đồ thờ, tƣợng thờ…, đây là những động sản nhƣng về ý nghĩa thì không thể tách khỏi kiến trúc tôn giáo, tín ngƣỡng.
Công trình kiến trúc là bất động sản, không thể di dời khỏi không gian mà nó tồn tại, trong khi đó các di vật, cổ vật trong di tích lại dễ dàng lấy đi khỏi nơi tồn tại của nó. Di vật, cổ vật trong các di tích tôn giáo, tín ngƣỡng rất phong phú, đa dạng về loại hình và chất liệu. Loại hình: tƣợng thờ, đồ thờ, chuông đồng, sắc phong, hoành phi, câu đối, bia, khánh, sách cổ… Chất liệu: bao gồm nhiều loại chất liệu khác nhau: đồng, gỗ, giấy, đá, gốm sứ…, nhiều cổ vật đƣợc làm từ chất liệu quý hiếm nhƣ vàng, bạc, đá quí. Các di vật, cổ vật này lại hàm chứa nhiều giá trị khác nhau mà tiêu biểu là các giá trị về văn hóa, lịch sử, kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật.
Trƣớc hết, chúng là vật có giá vì là vật đã tồn tại lâu đời, niên đại của cổ vật càng xa xƣa thì càng quí. Một hiện vật có niên đại nhiều năm tuổi, đại diện cho một nền kỹ thuật, một quan niệm thẩm mỹ của thời đại đã qua, thậm chí của một cộng đồng, một dân tộc không còn nữa vì vậy chúng là những vật vô giá. Cổ vật chứng minh cho nền kỹ thuật của thời đại đã sản sinh ra nó, thông qua các cổ vật, chúng ta có thể xét đoán trình độ sản xuất đƣơng thời mà lịch sử không chép hoặc có chép nhƣng mờ nhạt; Ví dụ, khi chúng ta tiếp cận các cổ vật là trống đồng thì ta thấy kỹ thuật đúc đạt tới trình độ điêu luyện và tinh xảo của ngƣời Lạc Việt từ hàng năm trƣớc. Giá trị mỹ thuật của cổ vật đƣợc thể hiện thông qua các họa tiết hoa văn trang trí, màu men, dòng chữ đề trên cổ vật, kiểu dáng sản phẩm… Giá trị mỹ thuật tạo ra những nét đặc trƣng riêng của từng thời đại khác nhau.
15 - Cổ vật gốm sứ: Từ quan niệm chung về di sản văn hóa và cách phân chia di sản văn hóa của UNESCO thì cổ vật gốm sứ đƣợc xếp vào loại thứ nhất là di sản văn hóa vật thể, do vậy nó cũng mang đầy đủ các yếu tố của di sản văn hóa. Cổ vật gốm sứ phải là Cổ vật (theo Luật Di sản năm 2001 thì hiện vật đó phải có ít nhất từ 100 năm trở lên, các món đồ chƣa đủ trăm tuổi thì trong dân gian thƣờng gọi là đồ cũ chứ chƣa đƣợc gọi là đồ cổ). Sau nữa, cổ vật gốm sứ đƣợc làm từ chất liệu đất, có tráng men hoặc không tráng men, đƣợc chế tác do bàn tay khéo léo, tài ba của cha ông, nhằm phục vụ cho cuộc sống. Chính vì vậy cổ vật gốm sứ là hiện thân của văn hoá từng thời kỳ của lịch sử mà chúng ta cần nghiên cứu và bảo vệ.
Bảo vệ di sản văn hóa nói chung và cổ vật gốm sứ nói riêng trong thời đại ngày nay không chỉ là nhiệm vụ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mà thực sự đã trở thành vấn đề chung mang tính toàn cầu đƣợc cả nhân loại quan tâm. Cổ vật gốm sứ đƣợc xác định là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để chúng ta nghiên cứu, kế thừa xây dựng và phát triển nền “văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; xây dựng con ngƣời Việt Nam về tƣ tƣởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; xây dựng môi trƣờng văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Cổ vật gốm sứ là tài sản vô giá của toàn dân, kết tinh truyền thống dân tộc, do các thế hệ ngƣời Việt Nam, nối tiếp nhau từ đời nay qua đời khác sáng tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc. Giữ gìn các giá trị của cổ vật gốm sứ cũng có ý nghĩa là chăm lo cho sự gắn kết Truyền thống - Hiện tại và Tƣơng lai; chăm lo cho việc bồi đắp cái cốt lõi của bản sắc dân tộc.
Không có truyền thống thì sẽ không có hiện tại và càng không thể có cơ sở vững chắc để hƣớng tới tƣơng lai tốt đẹp. 16 - Gốm sứ và phân loại Theo quan niệm phổ thông thì cổ vật gốm sứ đƣợc chia làm 3 loại: gốm, sành và sứ, trong đó sứ còn phân chia thành sứ và bán sứ. Tuy vậy trong xã hội và trong dân gian, thƣờng không phân biệt một cách rạch ròi đâu là làng gốm, đâu là làng sứ…, mà thƣờng gọi một danh từ chung là gốm, hoặc dùng từ ghép là gốm sứ, ví dụ nhƣ làng gốm Bát Tràng (Hay gốm sứ Bát Tràng), làng gốm Chu Đậu, gốm Cây Mai, gốm Lái Thiêu… Gốm: Là một loại hàng hóa đƣợc làm từ chất liệu đất nung với các họa tiết đơn giản, kỹ thuật chƣa cầu kỳ và đặc biệt là nhiệt độ nung ở nhiệt độ thấp dƣới 1000 độ C. Một đặc điểm cơ bản rất dễ phân biệt với đồ sành và đồ sứ là đồ gốm thƣờng thấm nƣớc.
Gốm đất nung đƣợc làm chủ yếu từ các loại đất sét dẻo, tƣơng đối mịn hạt, pha thêm cát, nung ở nhiệt độ trên dƣới 800 - 900oC, gốm cứng nhƣng vẫn còn thấm nƣớc. Gốm có nhiều màu sắc khác nhau, nhƣ đen hạt, đen sẫm, nâu đỏ, vàng nhạt hoặc trắng mốc. Các loại gốm thƣờng thấy là gạch, ngói, mô hình nhà, giếng nƣớc, bi gốm, nồi niêu, bình, vò, chõ, chì lƣới, dọi xe chỉ, khuôn gốm… Nhìn chung, gốm đất nung thời kỳ sau này vẫn phát triển theo truyền thống gốm văn hóa Đông Sơn. Sành: Về cơ bản cũng là các loại gốm trên nhƣng đƣợc chọn lọc kỹ càng hơn về chất đất, kỹ thuật nhào, luyện và đặc biệt là nhiệt độ nung cao hơn hẳn nhiệt độ nung đồ gốm.