Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TOÀN CẦU HOÁ: TÍNH TẤT YẾU, KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM 1. Toàn cầu hoá: tính tất yếu, khái niệm Toàn cầu hoá không còn là một hiện tượng quá mới mẻ. Nó đã và đang diễn ra với những diễn biến hết sức phức tạp. Là một quá trình đang diễn ra trên tầm độ rộng lớn nên người ta chưa thể định hình nó lại một cách đầy đủ và có thể nắm bắt bản chất của nó một cách chính xác.
Vì thế, cho đến nay, xung quanh vấn đề này, trên thế giới cũng như ở Việt Nam ta, còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Thuật ngữ toàn cầu hoá được đưa vào từ điển tiếng Anh của Webster năm 1961, nhưng mãi đến năm 1980 thuật ngữ này mới được sử dụng rộng rãi. Ở Việt Nam, khái niệm toàn cầu hoá và những nội dung đặc điểm của nó cũng mới được bàn nhiều từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX lại nay. Mặc dù còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, song về cơ bản, có hai loại quan niệm: quan niệm theo nghĩa rộng và quan niệm theo nghĩa hẹp.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hệ thống hoá được vô vàn các định nghĩa cụ thể khác nhau về toàn cầu hoá. Theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá được xác định như là một hiện tượng hay một quá trình làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ quốc tế trên nhiều mặt của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh, môi trường.) giữa các quốc gia. Chúng ta có thể kể ra đây rất nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này. Tiêu biểu cho cách hiểu này là các quan niệm của các tác giả, cũng như nhóm tác giả ở các nước, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội trên thế giới.
Chẳng hạn, TS. Jan Aart Scholte cho rằng "toàn cầu hoá là một xu hướng làm cho các mối quan hệ trở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý và lãnh thổ" [3, tr. Trong Báo cáo thường niên của tổ chức Thương mại thế 8 z Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân Hoàng giới (WTO) năm 1998, các nhà phân tích, cho rằng "toàn cầu hoá là một quan hệ có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối" [3, tr. Rộng hơn, tổ chức Liên Hiệp Quốc cho rằng: toàn cầu hoá là một quá trình đa hệ [8, tr.
Năm 1999, Krueger, một tác giả người Đức, đã đưa ra một định nghĩa rộng hơn nữa, theo đó "toàn cầu hoá là những quá trình trên toàn thế giới. góp phần tạo thành và phát triển những hệ thống toàn cầu" [65, tr. Nhìn chung, các quan điểm trên đã xem xét toàn cầu hoá với tư cách là một quá trình có cấp độ phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Những người ủng hộ quan điểm này đã có cách nhìn bao quát về quá trình toàn cầu hoá.
Đó không đơn thuần là một quá trình kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị, văn hoá và xã hội sâu sắc. Ở Việt Nam, tác giả Lê Hữu Nghĩa cũng có quan điểm tương tự như vậy khi cho rằng, toàn cầu hoá, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, sự tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá được hiểu là toàn cầu hoá kinh tế. Phần lớn các nhà kinh tế xem toàn cầu hoá là quá trình kinh tế vi mô.
Hay nói cách khác, họ thường xem xét toàn cầu hoá dưới góc độ kinh tế, như là các quá trình kinh tế. Tiêu biểu cho loại quan niệm này, có thể dẫn ra một số tác giả sau đây. Có tác giả cho rằng, toàn cầu hóa được định nghĩa là tiến trình mà trong đó sự liên kết chiến lược và mạng lưới quốc tế, các doanh nghiệp (dẫu có hay không có quan hệ kinh tế đặc biệt) càng phụ thuộc với nhau, càng liên kết với nhau hơn [65, tr. Một số tác giả khác nhận định, toàn cầu hoá là sự phân công lao động ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới, thể hiện trước hết qua sự phân chia các quá trình sản xuất thành nhiều bậc khác nhau tại các địa điểm khác nhau (trên đây là quan điểm của H.Hemmer et at) [65, tr.
Walter Good cho rằng, toàn cầu hoá chỉ khuynh hướng gia tăng các sản 9 z Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân Hoàng phẩm có các bộ phận cấu thành được chế tạo ở một loạt nước [3, tr. Các tác giả thuộc Trung tâm Phương Nam thì cho rằng: "Toàn cầu hoá là sự liên kết các thị trường hàng hoá và tài chính được thuận lợi bởi quá trình tự do hoá" [3, tr.Oman định nghĩa: toàn cầu hoá là "sự tăng lên hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng ngày càng nhanh của các hoạt động kinh tế vượt khỏi biên giới quốc gia và các khu vực" [3, tr. Các nhà kinh tế thuộc UNCTAD đưa ra một định nghĩa đầy đủ và cụ thể hơn rằng: "Toàn cầu hoá liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hoá và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành và cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và các giao dịch quốc tế không ngừng gia tăng đó” [3, tr. Tóm lại, các quan niệm này tập trung vào lĩnh vực kinh tế, vào xem xét toàn cầu hoá dưới góc độ sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông.
Theo đó, toàn cầu hoá chủ yếu diễn ra trên các lĩnh vực tài chính, thương mại, phân công lao động quốc tế, các nguồn lực và các tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Tiếp nối các quan điểm thuộc cách hiểu đó, Ủy ban Châu Âu quan niệm một cách rõ ràng hơn, chủ yếu dưới góc độ của sự phát triển thị trường toàn cầu. Theo Ủy ban này, toàn cầu hoá có thể định nghĩa như một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau do có sự năng động của buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như do có sự lưu thông tư bản và công nghệ. Đây không phải là một hiện tượng mới mà là sự tiếp tục một tiến trình được khơi mào từ khá lâu.
Công bằng mà nói, các quan niệm trên đều có lý của nó, song chưa thể bao quát hết bản chất, có những quan niệm quá chung chung, có quan niệm quá đi sâu vào chi tiết mà chưa nêu lên được thuộc tính bản chất của toàn cầu hoá. Ở Việt Nam ta, cũng có quan niệm coi toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế, là sự gia tăng nhanh chóng các yếu tố kinh tế vượt qua biên giới quốc 10 z Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân Hoàng gia dân tộc, khu vực, vươn tới quy mô toàn cầu. Các tác giả sách “Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện đại hội IX của Đảng”, đã chỉ ra rằng: “Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến cố có quan hệ lẫn nhau từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới. Toàn cầu hoá khiến cạnh tranh quốc tế ngày càng gắt, làm sâu sắc hơn chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế, kích thích gia tăng sản xuất không chỉ ở cấp độ quốc gia, mà còn mở rộng ra trên toàn thế giới” [61, tr.
Bên cạnh đó, một số tác giả không xem xét toàn cầu hoá là một quá trình đơn phương, riêng rẽ mà gắn toàn cầu hoá với khu vực hóa xem đó là hai quá trình có mối liên hệ mật thiết với nhau, không mâu thuẫn mà bổ sung cho cho nhau trong quá trình hội nhập quốc tế. Theo họ, “các khái niệm toàn cầu hoá và khu vực hoá cần được hiểu là quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hoá và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức nhằm quản lí các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế" [3, tr. Như vậy, toàn cầu hoá và khu vực hoá tuy là hai hiện tượng có những khác biệt nhất định nhưng về cơ bản là thống nhất với nhau. Có thể xem khu vực hoá là một bộ phận của quá trình toàn cầu hoá, là những bước để đi tới toàn cầu hoá.
Nói cách khác, khu vực hoá là quá trình toàn cầu hoá từng bộ phận và theo khu vực địa lý, đời sống kinh tế của mỗi quốc gia. Theo một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Việt Nam, mặc dù có sự khác nhau về cách trình bày và diễn, song về đại thể, có thể quy các quan niệm về toàn cầu hoá trong và ngoài nước thành mấy quan niệm sau: toàn cầu hoá là chủ nghĩa tư bản hoá toàn cầu; toàn cầu hoá là phương Tây hoá; toàn 11 z Luận văn thạc sĩ Triết học Phạm Xuân Hoàng cầu hoá là một quá trình lịch sử khách quan; toàn cầu hoá là sự nhất thể hoá kinh tế chính trị toàn cầu; toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế. Ở đây, chúng tôi muốn tập trung tìm hiểu một số quan niệm tiêu biểu. Xung quanh quan điểm xem toàn cầu hoá là một quá trình lịch sử khách quan, vẫn còn có các cách lý giải khác nhau.
Nhiều ý kiến nhấn mạnh yếu tố phát triển của lực lượng sản xuất, có ý kiến nhấn mạnh đến khía cạnh quan hệ sản xuất. Nói tóm lại, các quan niệm này chú ý tới trình độ phát triển của phương thức sản xuất, tập trung là do yếu tố kinh tế. Đúng là, toàn cầu hoá phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất trên quy mô toàn cầu, song vấn đề đặt ra là, bản chất của các hoạt động kinh tế này ra sao. Quan niệm này nếu không cẩn thận sẽ đưa lại cách hiểu đơn giản về toàn cầu hoá, trong khi đó, trên thực tế, toàn cầu hoá là hiện tượng phức tạp, đầy mâu thuẫn.
Theo họ, toàn cầu hoá ra đời và phát triển trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.