Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Hệ thống hóa các khái niệm 1. Khái niệm phát triển, cộng đồng và DLCĐ a, Phát triển Có nhiều quan điểm về “phát triển”, theo đó: Theo quan niệm biện chứng sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao.
Quá trình đó diễn ra dần dần, nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ, không phải lúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời. Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Quan điểm biện chứng cũng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Theo quan điểm siêu hình phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới.
Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có bước quanh có, phức tạp (Lê Văn Đính, 2018). Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới (Nguyễn Văn Lưu, 2015). Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của một sự vật, hiện tượng nào đó trong Triết học Mác - Lenin. Luan van 6 Như vậy có rất nhiều các khái niệm về phát triển nhưng đặc điểm chung của phát triển là quá trình vận động, thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất.
b, Cộng đồng Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về cộng đồng, vì đây là một phạm trù thuộc khoa học xã hội & nhân văn, theo một số nghiên cứu đã định nghĩa “Cộng đồng là những cộng đồng được gọi tên như đơn vị làng, bản, xã, huyện.những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội” (Đào Ngọc Anh, 2012). Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2000) cộng đồng được hiểu là “một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” (Phương Nhung, 2018). Trên thực tế cộng đồng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng đều có điểm chung như sau: - Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người - Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc riêng - Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng.
- Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng. - Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng. Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một định nghĩa chung nhất như sau về “cộng đồng là những người sống trong một khu vực được xác định về mặt địa lý, có những mối quan hệ văn hóa - xã hội với nhau và trách nhiệm với nơi họ sinh sống, có cùng sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm Luan van 7 tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng. c, Du lịch cộng đồng Theo nghiên cứu của viện miền núi cho rằng: “DLCĐ là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn.
DLCĐ khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng. DLCĐ là một quá trình tương tác giữa cộng đồng (chủ) và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương” (Đỗ Anh Tài, 2019). “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển. Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; củachính quyền địaphương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.
Theo luật du lịch Việt Nam (2017), DLCĐ được định nghĩa “DLCĐ là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi” Dựa trên những quan điểm nghiên cứu khác nhau thì quan niệm về DLCĐ không hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên có một số điểm chung sau: - Du khách là tác nhân bên ngoài là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và văn hóa khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể. - Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt tài nguyên du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình Luan van 8 khi có cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương. - Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách - Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách. Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình.
Tổng hợp những quan điểm về DLCĐ thì DLCĐ là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung, thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hoá…) (Đỗ Anh Tài, 2019). Khái niệm về văn hóa, văn hóa truyền thống và DTTS a, Văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”. Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn Luan van 9 qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người.
Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (Hoàng Nam, 2013). Tuy nhiên, thực tế là rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra nhưng đến hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa nào là thống nhất và thỏa mãn được hàm ý sâu rộng của văn hóa. Có thể hiểu văn hóa có liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người, bao gồm tất cả những sản phẩm của con người. Văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: văn hóa phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và văn hóa vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,… b, Văn hoá truyền thống Văn hoá là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong mối quan hệ qua lại với con người, tự nhiên và xã hội.
Truyền thống được hiểu là những yếu tố của văn hoá, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp, nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài; truyền thống được thể hiện ở định chế xã hội, chuẩn mực và hành vi, các giá trị tư tưởng, phong tục tập quán và lối sống,…Truyền thống tác động đến mọi xã hội và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội (Đào Ngọc Anh, 2016). Trên cơ sở khái niệm về văn hoá và truyền thống, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về văn hoá truyền thống như sau: Văn hoá truyền thống là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, được tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, được lưu giữ truyền từ đời này sang đời khác. c, Dân tộc thiếu số Dân tộc là quốc gia theo nghĩa rộng, gồm cộng đồng người dân cùng nhau sinh sống trên một lãnh thổ rộng lớn, được vận hành bởi sự quản lý của bộ máy nhà nước, trong một dân tộc thì có thể gồm nhiều tộc người, mỗi tộc Luan van 10 người lại có những nét văn hóa và ngôn ngữ khác nhau tạo ra nét phong phú, độc đáo.